Chủ nhật, 8 /12 / 2019
Chào mừng đến với website chè búp tân cương, Trang thông tin trực tuyến

Chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây chè thái nguyên

Cây chè thái nguyên là một loại cây gắn chặt với cuộc sống của người dân Thái nguyên, và những sản phẩm từ nó luôn được mọi thượng khách xa gần bảo quản cận thận và sử dụng hằng ngày. Vậy cây chè thái nguyên sinh trưởng và phát triển như thế nào. Hôm nay chebuptancuong sẽ cùng bà con tìm hiểu kỹ hơn về chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây chè thái nguyên.

Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của một cây chè Thái Nguyên bao gồm ba giai đoạn: Giai đoạn cây non, giai đoạn cây lớn, và giai đoạn cây già cỗi.

Chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây chè thái nguyên

 

Chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây chè Thái Nguyên

Thời vụ của cây chè

– Vụ Xuân (tháng 3-4): Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá.

– Vụ Hè Thu (tháng 5 – 10): Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng những búp cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá

– Vụ Thu Đông (Tháng 11): hái chừa lá cá , tháng 12 hái cả lá cá

– Với các giống chè có dạng thân bụi, sinh trưởng đỉnh đều có thể hái kéo hay hái bằng máy để nâng cao năng suất lao động.

Chu kỳ sinh trưởng và phát triển

Chu kỳ của một cây chè bao gồm ba giai đoạn.

+ Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn cây non hay giai đoạn thiết kế cơ bản. Các bụi chè phải trồng 3-4 năm kể từ khi gieo trồng mới phát triển thành cây trưởng thành.

+Sau đó là giai đoạn cây lớn là giai đoạn chè lớn kéo dài 20 – 30 năm, tuỳ giống, điều kiện đất đai, dinh dưỡng và khai thác. Chăm sóc kém và khai thác nhiều sẽ làm cho cây chè bị suy thoái, già trước tuổi. Đây là giai đoạn chè cho năng suất cao nhất.

+ Giai đoạn chè già cỗi, cây chè suy yếu dần, lá nhỏ, búp ít, chóng mù xoè, hoa quả nhiều, cành tăm hương nhiều, chồi gốc mọc nhiều. Đến giai đoạn này, người trồng chè phải dùng các biện pháp kỹ thuật để tạo tán mới cho chè như đốn đau, đốn trẻ lại. Thời gian kéo dài tuổi thọ cây chè có thể từ 5-10 năm.

Những yếu tố tự nhiên tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của cây chè

1.Ánh sáng

Cây chè  là một cây rừng mọc trong những điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là cây trung tính trong giai đoạn cây con, lớn lên ưa sáng hoàn toàn. Dưới bóng râm, là chè xanh đậm, lóng dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, sản lượng thấp vì quang hợp yếu. Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác dụng tốt đến phẩm chất chè hơn ánh sáng trực xạ. Sương mù nhiều, ẩm ướt, nhiệt độ thấp, biên độ nhiệt ngày đêm lớn ở vùng đồi núi cao là điều kiện để sản xuất chè có chất lượng cao trên thế giới.

2. Nhiệt độ

Nhiệt độ không khí thuận lợi cho sinh trưởng của chè là 22-280C; búp chè sinh trưởng chậm ở 15-180C, dưới 100C mọc rất chậm. Trên 300C chè mọc chậm, trên 400C chè bị khô xém nắng lá non.

3.Nước

Nước giữ vai trò quan trọng trng sản xuất nông nghiệp và công nghệ chế biến. Nước là thành phần chủ yếu của chất nguyên sinh, là nguyên tố quan trọng để đảm bảo các hoạt động sinh lý của cây chè. Về nông nghiệp, nước quyết định sản lượng và chất lượng của chè; trong công nghiệp, nước là thành phần biến đổi nhiều trong các công đoạn héo, vò, lên men, sấy khô.

Hàm lượng nước trong chè biến động theo từng bộ phận, giống chè, biện pháp kỹ thuật và khí hậu thời tiết trong năm. Nói chung, các tổ chức non có nhiều nước hơn các bộ phận già. Mưa nhiều sản lượng chè cao nhưng chất lượng thấp.

Lượng mưa trung bình năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè trên thế giới là 1.500-2.000mm. Độ ẩm tương đối không khí từ 80-85% có lợi cho sinh trưởng của chè.

Nhu cầu dinh dưỡng của chè thái nguyên

– Đạm

Đạm tập trung ở các bộ phận còn non như: búp chè thái nguyên và lá non. Đạm tham gia vào sự hình thành các axitamin và protein. Bón đủ đạm lá chè có màu xanh, quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng khoẻ, nhiều búp, búp to. Thiếu đạm chồi lá ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp. Bởi vậy bón đạm làm tăng năng suất từ 2-2,5 lần so với không bón. Bón đạm quá nhiều hay đơn độc làm chè có vị đắng, giảm phẩm chất.

– Lân

Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic. Lân có vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè. Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu 2 bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp.

– Kali

Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng. Kali tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng hoạt động của các men, làm tăng sự tích luỹ gluxit và axitamin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp, làm tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè.

Thiếu Kali lá chè có vết nâu, rụng lá nhiều, búp nhỏ, lá nhỏ.

– Trung và vi lượng

Theo một số nhà nghiên cứu, tác dụng của các yếu tố trung và vi lượng chỉ thể hiện rõ nét ở các đồi chè nhiều tuổi chuyên bón các loại đa lượng lâu năm. Phân vi lượng gồm có: Bo, Mn, Zn, Cu…; phân trung lượng gồm có: Ca, Mg, S, Al…

Phân bố địa lý, thuận lợi và khó khăn đối với ngành chè Việt Nam

a. Vùng chè Tây Bắc

* Điều kiện khí hậu:

Đặc điểm quan trọng nhất là mùa đông tương đối ẩm, điển hình cho khí hậu gió mùa. Mùa đông ấm hơn vùng Việt Bắc 1-20­­C và vùng Đông Bắc 2-30­­C. Cuối mùa đông hanh nặng. Tháng 2-4 độ ẩm ở mức thấp nhất năm (75%). Lượng mưa mùa đông ít (10%/năm), số ngày mưa ít.

Dao động nhiệt độ ngày đêm mạnh mẽ, nhất là ở các thung lũng có nhiều khả năng xuất hiện sượng muối. Mùa hạ đến sớm, tháng 3 đã có nhiệt độ vượt 300­­C, tháng 4 rất nóng, tháng 6 nóng nhất. Mùa mưa cũng bắt đầu sớm hơn 1tháng (tháng 4) và kết thúc sớm 1 tháng (tháng 9).

Đầu mùa hạ có gió Tây rất khô nóng, hơn cả Vinh và Đồng Hới.

Khí hậu Tây Bắc có các trị số trung bình sau đây:

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 2-50­­C

Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 35-380­­C

Nhiệt độ trung bình năm 13-230­­C

Lượng mưa bình quân năm 1.500-2000mm

Mùa khô Tây Bắc diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3. Thời gian khô hạn kéo dài cộng thêm nhiệt độ xuống thấp làm cho sinh trưởng và năng suất chè giảm sút lớn.

* Điều kiện đất đai

Vùng Tây Bắc có các loại đất thích hợp cho cây chè như: đất đỏ vàng, đất đỏ nâu, tầng đất dày, ít dốc (<250)

* Hiện trạng sản xuất

Chè trồng tập trung ở Sơn La (3 tiểu vùng Mộc Châu, Mai Sơn, Phù yên), Lai Châu (2 tiểu vùng Phong Thổ, Tam Đường).

b. Vùng chè Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn

Gồm các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Bắc Cạn và phía Tây Yên Bái (Nghĩa Lộ, Văn Chấn)

* Điều kiện khí hậu

Vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn có địa hình phức tạp, đại bộ phận là vùng núi thấp, độ cao 100-500m. Khí hậu có các đặc điểm sau:

– Mùa đông ít lạnh hơn Đông Bắc. Sương muối là hiện tượng phổ biến.

– Không khí ẩm ướt hầu như quanh năm. Đặc biệt mưa phùn nửa cuối mùa đông (50 ngày/năm) rất có lợi cho sinh trưởng cây chè về mùa đông.

– Mùa hạ có mưa lớn trên các sườn núi cao và trong những thung lũng gây xói mòn mạnh vườn chè trên sườn núi Tây Côn Lĩnh.

– Vùng có độ ẩm cao nhất cả nước. Độ ẩm trung bình 85-86%, ở núi cao là 87-88% giữa mùa hạ (tháng 7-8), xấp xỉ 90% ở vùng thấp, trên 90% ở vùng cao.

– Nắng ít, số giờ nắng bình quân là 1400-1600 giờ/năm, nhiều nhất vào tháng 5, ít nhất vào tháng 1.

* Điều kiện đất đai

Các loại đất trồng chè chủ yếu là đất đồi và núi bao gồm các loại đất đỏ vàng, đất vàng phát triển trên sa thạch và phiến thạch.

* Hiện trạng sản xuất

Ở vùng này có chè đồi công nghiệp và chè rừng dân tộc.

– Chè đồi công nghiệp như Công ty chè Sông Lô, Tân Trào, Mỹ Lâm, Việt Lâm, Hùng An, Trần Phú, Nghĩa Lộ, Yên Bái, Văn Hưng, Bảo Ái.

– Chè rừng dân tộc Dao tập trung ở độ cao 300-600m. Khí hậu vùng này ẩm mát, sương mù nhiều, độ ẩm cao quanh năm, búp non trẻ lâu, chất lượng tốt. Đất trồng chè thường là rừng già, nhiều mùn. Chè trồng ven suối, dưới tán cây lớn, đất dốc thoải.

c. Vùng chè Trung du Bắc Bộ

Vùng này nằm tại ranh giới giữa miền núi và miền đồng bằng Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình, Vĩnh Phú, Thái Nguyên, Hà Tây và Hà Nội.

* Điều kiện khí hậu

– Mùa đông có thời kỳ đầu tương đối khô, nửa cuối rất ẩm ướt có gió nồm và mưa phùn. Mùa hạ ẩm ướt, nhiều mưa, khí hậu biến động mạnh.

– Khí hậu chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng núi. Biên độ nhiệt ngày đêm lớn hơn đồng bằng 0,50­­C, sương muối nhẹ hơn vùng núi.

* Điều kiện đất đai

Đất vùng chè trung du Bắc Bộ chủ yếu là feralit phân bố ở các địa hình đồi núi, chia cắt mạnh gồm 5 loại chính sau:

– Đất phát triển trên phiến thạch sét ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, Thái Nguyên.

– Đất phát triển trên phiến thạch gneiss và mica ở Phú Hộ.

– Đất nâu đỏ ở Thái Nguyên

– Đất nâu đỏ trên phù sa cổ ở Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Nội.

– Đất vàng nhạt phát triển trên đá cát ở Thái Nguyên, Vĩng Phúc, Tam Đảo, Hà Tây, Hà Nội.

* Hiện trạng sản xuất

Đây là vùng chè lớn miền Bắc, có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh chè lâu đời như Vân Lĩnh, Đoan Hùng, Sông Cầu, Văn Hưng, Phú Sơn… Năng suất bình quân của vùng khoảng 3-4 tấn búp/ha, không đồng đều có sự chênh lệch lớn giữa các tỉnh.

d. Vùng chè Bắc Trung Bộ

Đây là vùng chè tươi lâu đời nhất của Việt Nam gồm 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.

* Điều kiện khí hậu

– Mùa đông bớt lạnh so với Bắc Bộ. Tuy nhiên trong những đọt gió mùa Đông Bắc mạnh nhiệt độ có thể rất thấp (50­­C) và vẫn có sương muối xuất hiện.

– Mùa đông cũng rất ẩm ướt. Độ ẩm trung bình trong các tháng mùa đông lớn hơn 85%, lượng mưa tháng cực tiểu cũng tới 30-40mm.

– Vào đầu mùa hạ có một thời kỳ gió Tây. Tháng 7 là tháng nóng nhất và độ ẩm thấp nhất trong năm.

– Mưa ẩm về cuối mùa hạ. Lượng mưa cực đại bắt đầu từ tháng 9, kéo dài hết tháng 11. Chỉ riêng 2 tháng 9-10 đã chiếm 40-50% lượng mưa cả năm.

– Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23-240­­C.

* Điều kiện đất đai

Gồm các loại đất chủ yếu là đất vàng đỏ, sa thạch, phù sa cổ.

* Hiện trạng sản xuất

Hiện nay có khoảng 10 nhà máy chế biến chè xanh và chè đen cho xuất khẩu (Bãi Trành, Yên Mỹ, Hạnh Lâm, Bãi Phủ, Anh Sơn, …)

e. Vùng chè Tây Nguyên

Đây là vùng đất rộng trên dãy núi Trường Sơn với nhiều núi cao, cao nguyên rộng và bằng phẳng của 3 tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum.

* Điều kiện khí hậu

– Có sự tương phản sâu sắc giữa mùa khô và mùa mưa. Lượng mưa trong mùa khô (tháng 11 – tháng 3) chỉ chiếm từ 7-8% lượng mưa cả năm, độ ẩm tương đối không khí rất thấp 70%. Mùa hạ lượng mưa rất lớn (1.800-2.800mm) chiếm 90% lượng mưa cả năm, thuộc loại cao ở Việt Nam, độ ẩm tương đối không khí rất cao 85%.

– Biên độ dao động nhiệt ngày và đêm rất mạnh 10-110­­C thuộc loại cao nhất toàn quốc.

– Sự phân hoá không gian phức tạp, biến thiên lớn nên đã hình thành các vùng tiểu khí hậu khác nhau: Kon Tum, Gia Lai, Bảo Lộc, Buôn Ma Thuột.

* Điều kiện đất đai

Đất đỏ vàng chiếm xấp xỉ 66% tổng diện tích tự nhiên toàn miền và được chia thành các loại sau:

– Đất màu vàng bazan (ở Bảo Lộc – Đắc Nông).

– Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (ở Bảo Lộc, Di Linh, Đức Trọng).

– Đất nâu vàng

– Đất đỏ vàng

* Hiện trạng sản xuất

Lâm Đồng là tỉnh nhiều chè nhất cả nước . Vùng chè Lâm Đồng tập trung nhiều ở Bảo Lộc và Bảo Lâm, Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng…

f. Vùng chè duyên hải miền Trung

Đây là vùng chè quan trọng của người Việt Nam trước thời kỳ Pháp thuộc. Phần lớn chè trồng dọc theo duyên hải Trung Bộ, trên sườn của dãy núi Trường Sơn thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, từ 170 đến 150 vĩ Bắc. Chè trồng rải rác, quy mô nhỏ, tiêu thụ trong tỉnh, chế biến chè xanh theo thủ công.

* Điều kiện khí hậu

Khí hậu chia thành 2 tiểu vùng. Khí hậu vùng trung Trung Bộ không thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây chè, ảnh hưởng xấu đến chế độ lên men chè đen.

* Điều kiện đất đai

Có đất vàng đỏ, đất nâu vàng. Đất đai nghèo kiệt, không có độ cao, năng suất và chất lượng chè thấp.

* Hiện trạng sản xuất

Diện tích chè vùng này phân bố rải rác ở các tỉnh. Sản xuất tự túc là chủ yếu.

g. Vùng chè cánh cung Đông Bắc

* Điều kiện khí hậu

– Vùng này tiếp nhận gió mùa Đông Bắc sớm nhất, nhiệt độ trung bình tháng 1 ở Lạng Sơn là 11,30C, thấp hơn 1-30C so với các vùng khác cùng độ cao. Biên độ năm của nhiệt độ là 13-140C đạt kỷ lục toàn quốc. Tại các vùng thấp cũng có nhiệt độ dưới 00C.

– Vùng này có mùa đông lạnh nhất, nhiều sương muối nhất toàn quốc.

– Vùng này ít mưa do bị cánh cung Đông Triều che khuất nên lượng mưa thấp nhất toàn quốc 1.400mm/năm, 133 ngày mưa, độ ẩm tương đối 81-83%.

* Điều kiện đất đai

Đất thuộc loại đất đỏ vàng, độ xốp trung bình, nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn do mưa lớn trên các sườn dốc.

* Hiện trạng sản xuất

Vùng này có chè rừng cổ thụ Mẫu Sơn ở Lạng Sơn. Sản phẩm trà xanh là chủ yếu, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu sang Trung Quốc. Do độ cao và nhiệt độ thấp, biên độ ngày đêm cao, nhiều sương mù nên trà có chất lượng cao hơn vùng Trung du Bắc Bộ.

Xem thêm: Điều kiện sinh thái như thế nào là phù hợp với cây chè

Facebook Comments