Thứ năm, 19 /10 / 2017
Chào mừng đến với website chè búp tân cương, Trang thông tin trực tuyến

Những điều ít biết về văn hóa trà Việt ( Phần 2)

Tags: , ,

Uống trà

Trong văn hóa trà Việt có thưởng trà kẻ dưới, dâng trà lên kẻ trên, nhưng thường là đãi trà, theo lý trà Việt, đâu cũng là đãi trà, chỉ có cách nói lệch do nguyên nhân khác. Vua có thưởng bầy tôi chén trà, bầy tôi khoe vua đãi trà thì vua mới vui. Cái lý trà của Việt Nam là bính đẳng, nên trừ “ thằng nhỏ” có người mời không uống, thì người chủ việc mời đều uống.

Khi uống trà, người Việt tỏ ý lớn nhất là thư thái, trong trạng thái minh mẫn nhất đó của con người, các thái độ tôn trọng nhau được thực hiện chặt chẽ và tế nhị nhất.  Một điểm khác biệt của trà Việt là bàn trà quây quần, nên mọi người cùng uống theo lẽ, cùng tỏ thái độ khen chê tế nhị.

Một thứ tự đặc biệt của người Việt là người mời trà bao giờ cũng uống trước, điều đó ở nước ngoài có thể mất đầu. Người mời trà nhấc chén, khách mới nhấc chén, nhưng khách lại đợi người mời chè uống trước, rồi mới uống. Người mời trà uống trước là thái độ tôn trọng nhất của ông được thể hiện với khách, ông mời khách chân tình, rất Việt chứ không khách sáo lễ nghi. Đồng thời, trà rót từ một chén tống như nhau, ông uống trước tỏ thái độ “nếm trước” nếu vạn nhất có độc thủ, hay nếu không cũng là cách thể hiện “trà tôi thường dùng, tôi mời, chứ không phải trà cho”

Khi uống trà, ai cũng phải tỏ ra thư thái từ từ, không có chút vẻ vội, nên mọi người đưa chén lên chậm rãi. Mỗi người cầm chén, khẽ gạt vào đĩa đựng hay thành khay để hết nước rỏ, rồi nhấc lên đưa mắt nhìn nhau để uống theo đúng thứ tự. Động tác gạt cũng làm chậm nhịp uống lại, làm cho họ không bối rối khi phải đợi bất ngờ, ví dụ như người chủ uống trước mải nói hay phải trả lời ai.

Người uống trà đưa chén ngang mũi, tỏ ý biết thưởng hương trà, rồi nhấp ngụm nhỏ, tỏ ý xem xét vị trà. Ngụm này được nuốt rất điệu bộ: môi mím, mắt chăm chú như vô hồn, miệng ngậm để trà trôi khắp miệng từ từ qua tất cả các giác quan trong miệng, đến cổ họng trà đi qua chậm để biết hậu vị. Hậu vị là biểu hiện cao không thể thiếu của trà ngon, nên nhiều người thấy thế, xong nhịp uống liền “khà” một cái, báo cho chủ biết họng đã khe khé vì hậu vị, trà của ông ngon. Hết ngụm khởi động, người ta đưa mắt nhìn nhau, nhường nhau bình phẩm. Rồi mới uống chén trà từng ngụm nhỏ.

Khen trà là một lý quan trọng. Vì không như trà Tầu, trà Việt không bao hàm giầu sang quyền quý, nên khen trà ngon, hay, thơm… đều là không lịch. Người biết lý trà được đãi ấm trà ngon làm một câu đầy đủ “trà uống được” là chủ vui nhất, người ngắn gọi thì “được” là vui rồi. Không như Nhật Tầu, văn tốt chữ hay đem nịnh trà. Ở Việt, ai “nịnh trà” liền được chủ khách coi thường. Biếu trà cũng vậy, đem biếu mà bảo “có ấm trà ngon biếu ông”, là người ta cười cho. Từ “trà ngon” chỉ dùng hướng dẫn vợ mua trà đãi khách. Khi ấm trà tàn, tình giao trà đã đậm như người thân, người ta mới nói đến chuyện thơm ngọt hơn kém, nhưng cũng chỉ ý nhịn thôi.

Rửa bộ đồ trà

Chuyện rằng, có cô con dâu đem ấm trà của bố chồng đi rửa, về sạch bóng, liền bị chửi một trận te tua. Ngày trước, bộ đồ trà được rửa rất sạch, vì lúc uống trà là lúc lòng mình trong sạch nhất, ít ra là hình thức. Thế nhưng, tuyệt đối không được rửa vài điểm. Đó là xung quanh miệng ấm( vành lõm nếu có), phần miệng vòi và dưới vòi, phần vỏ đối diện với vòi. Trà đóng lâu ngày thành “cao trà”, tuổi uống trà lâu năm liên tục thì “cao trà” đong dầy thành ly, khách trà nhìn thấy kinh nể, đó là thể hiện kín đáo.

Bộ “gan gà” và bộ men ngọc rạn đọng cao trà chắc nhất. Riêng gan gà không men, chất trà thấm vào ấm, nên nếu là ấm của cao nhân, rót nước sôi không, cũng có trà. Riêng đặc điểm này thì tầu chỉ có “tử sa”, tuy nhiên đồ Tử Sa dầy cộp, nặng trịch, không nhẹ và càng không thể hai lớp như “gan gà”. Nhưng gan gà mầu sậm, cao trà và màu sành hòa nhau, khó nhìn, nên thường dùng làm ấm nhường nhật nói chuyện với tri kỷ. Còn men ngọc rạn, màu men này làm đồ khác đã quý, riêng làm ấm trà thì màu sáng của men làm trội cao trà, vết rạn làm cao trà bám chắc, dễ gây ấn tượng hơn.

Da lươn rất khó nhìn thấy cao trà, cũng khó bấm, vì men bóng và nâu đồng màu với cao trà. Sứ hoa lam hoa văn nổi đậm và đẹp, trông sang, nhưng hai thứ này không được dân uống trà “pờ rồ” ưa chuộng. Da lươn ý nhị, người được đãi trà thấy lòng chén trắng sạch bong, nhấc chén lên thăm trà mới thấy cao trà, khó nhìn lẫn vào màu vỏ chén, mới biết đã được cao nhân nhìn mắt xanh.

Đọc thêm: Những điều ít biết về văn hóa trà Việt ( Phần 1)

Pha trà

Cách pha trà Việt vẫn còn được dùng đến nay, đó là đảm bảo ấm, chén đều nóng. Trà đồng rửa chén sạch tinh ấm chén, đặt lên khay, giữa 4 người, và đun nước sôi già. Đầu tiên là mở nắp ấm, đổ ( gọi là chuyên đầy nước vào ấp rồi đóng lại, rồi lại chuyên đầy nước vào các chén. Tiếp theo, trà đồng đợi một chút, rồi đổ hết nước trong ấm, cho trà đong sẵn vào. Tiểu đồng rót tí nước đủ để ướt hết trà, rồi rót đổ đi, lượt nước trà này làm trà ngấm đều, mới ra được nước trà đủ hương vị, đổ cạn nước tráng trà rồi mới đổ đầy ấm pha trà. Khi ấm trà gần được, tiểu đồng mới đổ nước chén tống, chén quấn đi, các chén này nóng rực, mới rót trà. Nhà sang hay quán còn có nồi mắt cua liên tục để nhúng chén cho nóng.

Ngày xưa người Việt hay dùng hai loại bình, là bình tỳ bà ( lọ) và bình tỏi( nậm hay to gọi ngắn là bình). Hai loại bình này đã được xuất khẩu khắp thế giới từ thời Lý – Trần. Bình tỳ bà hình bầu dục, miệng bé, còn bình tỏi như củ tỏi, cổ như dọc tỏi, bé mà cao. Có người nghiên cứu đồ cổ còn bảo đó là bình đực- cái, nhưng chưa thấy sách cổ nào nói vậy. Bình thường giá cao, nên dân thường ít dùng, thường lấy lọ đựng tất các thứ. Chè đựng trong lọ rất khô.

Loại bình nhỏ dễ cầm một tay được dùng để đựng trà khi uống. Người Việt không đong trà cầu kỳ, mà “đong” chỉ là đổ ra tay, người pha trà chuyên nghiệp mắt không cần nhìn cũng biết đủ thiếu, lọ thường là nút chuối khô. Riêng loại “gan gà” chuyên đựng trà có hai lớp, vào những ngày nóng quá, nó điều hòa nhiệt độ bên trong nên trà để lâu uống vẫn ngon, độ quánh của đất làm đồ này cho phép làm những vách rất mỏng mà chắc, nên thường được nặn nhưỡng đồ khó như vậy, bình nhỏ dùng lúc pha có nắp gốm. Có rất nhiều bình lọ các dòng da lươn, men hoa lam, men ngọc rạn và một số ít men đen. Bình lọ có thể có nắp, nhưng để lâu thường chỉ nút lá chuối, hay ngoài lớp lá chuối lọ đậy thêm cái nắp chụp như chum. Một cái bình tỏi Lý- Trần men hoa lam được trưng bày ở Thổ Nhĩ Kỳ còn được truy gốc gác đến người vẽ, xưởng làm, cả tiểu sử người vẽ.

Ngày nay người ta vẫn tráng ấm chén, tráng trà, rồi có người cầu kỳ đổ nước xong đậy nắp rồi đổ nước nóng lên nắp, đồ trà đã đổi nhiều nhưng lý trà vẫn thế.

Ngày xưa dân đồng bằng mỗi nhà có một bể nước mưa, nhà giầu đến hàng chục khối, pha trà hàng mùa. Do nước giếng khơi đồng bằng nhiều sắt, pha trà tanh, tạp. Bên cạnh bể nước thường có bụi nhài, rửa gì tiện tay hắt nước ra. Buổi chưa sáng, các ông già ra lấy nhài, lúc nhài thơm nhất, rồi thả một bông vào ấm trà. Dân trung du thường có kiểu kiến trúc vườn khá đẹp, một cái vườn phụ hẹp ngay trước sân, trồng cây cảnh và cao, cau cân đối hai bên cao vút, chính giữa là một cây ngâu được tỉa hình cầu tròn vo. Ướp ngâu khá mất công, nhưng cầu kỳ nhất vẫn là ướp sen. ( Theo Trathuanviet)

Facebook Comments