Phát triển ngành chè theo hướng chuyên nghiệp hóa sản xuất

Thẻ:

Cây chè được coi là cây có hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng khác, đóng vai trò xóa đói giảm nghèo và góp phần quan trọng để làm giàu cho địa phương. Không những thế, hiện nay, chè đang là một trong những nhóm hàng xuất khẩu quan trọng của nông sản Việt Nam. Để ngành chè phát huy thế mạnh xuất khẩu thì cần có những giải pháp phát triển bền vững và hiệu quả hơn nữa.

Phát triển ngành chè theo hướng chuyên nghiệp hóa

Thực trạng sản xuất chè ở Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), năm 2014, xuất khẩu chè chính ngạch của nước ta đạt 133.000 tấn, thu về 230 triệu USD và là nước đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu chè (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya và Sri Lanka). Mặc dù lượng xuất khẩu lớn như vậy, nhưng do chè Việt Nam chủ yếu xuất thô nên kim ngạch xuất khẩu chưa cao, giá chè xuất khẩu của nước ta lại chỉ bằng một nửa so với giá chè bình quân trên thế giới.

6 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu chè ước đạt 54 nghìn tấn với giá trị đạt 90 triệu USD, giảm 6,7% về khối lượng và giảm 4,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.

Hiện nay, Lâm Đồng là tỉnh có diện tích trồng chè lớn nhất với 21.900 ha. Tiếp đó là Thái Nguyên với 20.800 ha, Hà Giang 20.500 ha, Phú Thọ 16.300 ha, Yên Bái 11.500 ha. Năng suất chè cả nước bình quân đạt 83,4 tạ búp tươi/ha, tăng 7,9% so với năm 2011. Sản lượng chè búp tươi đạt 926.600 tấn, lượng chè chế biến đạt trên 200.000 tấn chè khô.

Tuy nhiên, những năm gần đây, sản xuất chè hiện nay vẫn năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Phân tích nguyên nhân của thực trạng này, các nhà quản lý và chuyên gia cho rằng, đó là do sản xuất còn manh mún, tổ chức sản xuất chè chưa tốt, thiếu liên kết với thị trường; người dân thiếu kiến thức; quản lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập; tổ chức theo dõi và kiểm tra đánh giá ATTP còn lỏng lẻo, không quản lý tận gốc.

Ông Phạm Đồng Quảng, Cục trưởng Cục Trồng trọt thẳng thắn nhìn nhận: Ngành chè quy mô sản xuất nhỏ, bình quân khoảng 0,2 ha/hộ nên rất khó tiếp cận các thiết bị kỹ thuật mới và chứng nhận chè an toàn. Nhiều cơ sở chế biến được cấp giấy phép sản xuất, nhưng không có vùng nguyên liệu; trình độ tay nghề chế biến thấp, chất lượng chè không cao.

“Một trong những điểm yếu của ngành chè Việt còn là cơ cấu sản phẩm chè chủ yếu là chè đen. Thêm vào đó, việc các doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu chè càng khiến chè của Việt Nam khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Điều này dẫn tới giá chè xuất khẩu của Việt Nam thấp, giá trị gia tăng rất hạn chế”, ông Quảng nói.

Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới có thể giúp cho việc xuất khẩu trở nên dễ dàng hơn do các hàng rào thuế quan dần được gỡ bỏ, nhưng đồng thời lại bị hạn chế bởi việc xuất hiện thêm nhiều hàng rào kỹ thuật khắt khe, đặc biệt là vấn đề an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng nông sản.

Một số giải pháp phát triển ngành chè bền vững và hiệu quả

Để phát triển ngành chè một cách bền vững và hiệu quả, phải kiên quyết thay đổi cách thức sản xuất để cây chè đạt tiêu chuẩn ATTP phục vụ tiêu dùng trong nước và đáp ứng xuất khẩu. Giải pháp trước mắt cũng như lâu dài là ngành chè cần rà soát và điều chỉnh quy hoạch sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ, phát triển các giống chè mới năng suất, chất lượng cao thay thế các giống chè cũ; đổi mới công nghệ chế biến, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng giá trị trong sản xuất chè.

Về phía Bộ NN&PTNT, sẽ chấn chỉnh quản lý Nhà nước, đặc biệt về quản lý BVTV, phân bón, tăng cường thanh tra giám sát để tránh hàng giả, hàng kém chất lượng; tăng cường hệ thống BVTV cấp xã kết hợp với phát huy vai trò của các hiệp hội, đoàn thể tại địa phương để tạo ra thói quen sản xuất an toàn cho cây trồng nói chung và sản xuất chè nói riêng. Trong đó, một trong những biện pháp thiết thực nhất được tính tới là Bộ NN&PTNT sẽ cấp mã số cho vùng chè nguyên liệu để truy xuất nguồn gốc trong thời gian tới. Đây là cách thức có thể vực dậy ngành chè theo hướng chuyên nghiệp hóa sản xuất, xây dựng thương hiệu và thu hút doanh nghiệp cùng chung tay phát triển thương hiệu chè Việt Nam.

Thực tế chứng minh, nhờ quản lí tốt đầu vào, đầu ra, quy trình kỹ thuật mà sản phẩm chè của các DN chè như: Cty Chè Hà Tĩnh, Phú Đa, Phú Bền (Phú Thọ), Biển Hồ (Kon Tum) và một số DN có 100% vốn nước ngoài luôn được đối tác đặt cọc tiền trước, giá bán cao gấp rưỡi giá chè bình quân của VN. Nhờ đó, đời sống thu nhập của người dân tại các vùng chè ngày một nâng cao.

Ông Fla-vi-ô Cô-sin (Flavio Corsin), Giám đốc chương trình Việt Nam của Tổ chức Sáng kiến thương mại bền vững (IDH) của Hà Lan cho rằng, để phát triển bền vững, ngành chè Việt cần thành lập Ban điều phối dựa trên mô hình Ban điều phối ngành cà phê. Bên cạnh đó, các nhà máy có hiệu quả sản xuất hạn chế (nhà máy xếp loại C) phải được cảnh báo, được tập huấn để nâng cấp lên loại A, B. Nếu các nhà máy này không đạt được loại A, B trong một thời gian nhất định thì nên bị đóng cửa.

Bên cạnh đó, một số chuyên gia nông nghiệp cho rằng, ngành chè cần tổ chức nông dân theo hình thức hợp tác xã hoặc hội sản xuất và gắn két nông dân với DN để xây dựng một chuỗi ngành hàng chuyên nghiệp. Vì vậy, việc nhanh chóng thúc đẩy thành lập Ban điều phối ngành hàng chè được kỳ vọng là “chìa khóa” thay đổi quan hệ sản xuất, nâng vị thế của người nông dân. Theo đó, Ban điều phối sẽ có sự tham gia của nông dân, doanh nghiệp, các tổ chức nước ngoài và các cơ quan quản lý nhà nước theo tỷ lệ công – tư.

Một trong những giải pháp cơ bản nữa là phải tuyên truyền đẩy mạnh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho nguyên liệu chè búp tươi bằng cách thực hiện VietGAP/GAP ở tất cả vùng trồng chè trên quy mô toàn quốc. Hiện có một số vùng trồng chè đã áp dụng quy trình VietGAP, UTZ Certified hoặc Rainforest Alliance nên đã có thể phòng ngừa được những nguy cơ nhiễm chất độc hại vào chè búp tươi. Việc này đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh ngay từ khi chè được thu hái sẽ có ý nghĩa quyết định tới đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho sản phẩm chè.

Xây dựng nông thôn mới trên xã chè

Thẻ:,

Xã Phú Cường xây dựng nông thôn mới trên xã chè với cách làm: Lấy nhân dân làm trung tâm, lấy việc nâng cao đời sống của bà con làm thước đo trong thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Phú Cường đã khơi dậy được sức mạnh từ chính trong nội lực nhân dân để từng bước hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên xã chè.

Xây dựng nông thôn mới trên xã chè
Xây dựng nông thôn mới trên xã chè

Phú Cường là xã miền núi của huyện Đại Từ. Xã có trên 1.200 hộ, chia làm 10 xóm với 5 dân tộc anh em cùng chung sống, đó là: Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí. Trước đây, do ruộng ít, lại không tập trung, chủ yếu là các diện tích chè trung du già cỗi, không được đầu tư chăm sóc, nên Phú Cường luôn là một trong những xã nghèo nhất huyện. Đời sống người dân nghèo nàn, giao thông đi lại khó khăn, hầu hết là đường đất, trời mưa thì lầy lội, trơn trượt, trời nắng thì bụi bẩn, nên việc thực hiện xây dựng nông thôn mới ở thời điểm này là hết sức xa vời.

Ông Nguyễn Kim Chinh, Chủ tịch UBND xã cho biết: Mục tiêu là sẽ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới trên xã chè trong năm 2017, nhưng chỉ mới đầu năm thôi, nhìn khối lượng công việc ngồn ngộn, tôi còn nghĩ sẽ khó hoàn thành. Bởi thời điểm này, xã mới đạt được 13/19 tiêu chí, còn lại 6 tiêu chí thì đều là những tiêu chí khó, đó là: thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, hộ nghèo, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội và giao thông. Trong đó, khó nhất vẫn là hộ nghèo và cơ sở hạ tầng giao thông. Lúc đó, chúng tôi chỉ biết dành sự quyết tâm cao nhất để từng bước thực hiện.

Với suy nghĩ, quan trọng nhất là phải có được sự đồng thuận của toàn dân, trong những năm gần đây, xã đã tăng cường vận động nhân dân đầu tư sản xuất để nâng cao đời sống, khi có đời sống ổn định, kinh tế phát triển thì mới có thể làm được các việc khác. Với hơn 90% số hộ có thu nhập từ chè, cây chè là cây trồng mũi nhọn, chủ lực trong phát triển kinh tế ở địa phương, bà con trong xã tích cực đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống chè từ chè trung du sang trồng các giống chè cành có năng suất, chất lượng cao. Những năm gần đây, việc đưa các giống chè mới vào trồng mới và trồng thay thế đã trở thành làn sóng rộng khắp toàn xã, chỉ tính trong năm 2016, toàn xã chuyển đổi được 25ha, chủ yếu là các giống: LDP1, Phúc Vân Tiên, TRI 777…

Năm 2017, xã vừa mới hoàn thành trồng thay thế được gần 30ha chè giống mới, đạt gần 200% so với kế hoạch. Bên cạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xã đã thực hiện chuyển đổi sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất. Đến nay, xã có 2 hợp tác xã và 1 tổ hợp tác sản xuất chè an toàn, từng bước tạo dựng thương hiệu chè Phú Cường, từ đó giá bán sản phẩm chè địa phương ngày càng tăng cao. Hiện nay, toàn xã có 270ha chè, trong đó diện tích chè kinh doanh là 240ha, giá bán chè khô trung bình từ 100-200 nghìn đồng/kg. Với diện tích này, cây chè đã phủ khắp các diện tích đồi, bãi và xã đang tiếp tục mở rộng các diện tích sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP nhằm nâng cao chất lượng chè, sức cạnh tranh và giá bán sản phẩm. Với giá trị kinh tế mà cây chè mang lại, chè đã thực sự trở thành cây xóa đói, giảm nghèo và dần dần trở thành cây làm giàu cho người dân Phú Cường. Nhờ đầu tư thâm canh tốt cây chè, đời sống của bà con ở đây đã từng bước được nâng lên, mỗi năm xã giảm được 5-8% hộ nghèo, kết thúc năm 2016, số hộ nghèo của xã còn trên 17%, hiện nay, xã đang rà soát lại và bình xét hộ nghèo của năm 2017, dự kiến sẽ chỉ còn dưới 12%. Thu nhập bình quân đầu người của xã hiện đạt gần 30 triệu đồng/người/năm, trong đó chủ yếu là thu từ cây chè.

Kinh tế phát triển, đời sống nâng cao, người dân có điều kiện để quan tâm, đóng góp, ủng hộ xây dựng cơ sở hạ tầng như: Đường giao thông, nhà văn hóa, kênh mương… Chưa bao giờ, khối lượng xây dựng ở Phú Cường lại nhiều như thời gian gần đây. Việc thi đua làm đường, làm nhà văn hóa đã trở thành phong trào rộng khắp các xóm trên địa bàn xã. Với khí thế thi đua sôi nổi, hàng loạt các công trình phúc lợi công cộng được xây dựng. Chỉ trong năm 2017, 3 tuyến đường liên xã nối các xã: Phúc Cường, Minh Tiến, Phú Thịnh với tổng chiều dài trên 6km đã được hoàn thành, cùng với đó, 41 tuyến đường liên xóm, trục xóm, ngõ xóm cũng đã được đổ bê tông theo tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn mới.

Ông Nguyễn Khánh Toàn, Trưởng xóm Văn Cường II cho biết: Trước đây, xóm chẳng có mét đường bê tông nào, người dân đi lại rất vất vả, tư thương vào thu mua chè cũng e ngại lắm, nhất là trời mưa, người dân phải mang chè đi bán. Nhưng giờ thì khác rồi, bước chân ra là có đường bê tông sạch đẹp, trời mưa hay nắng cũng không gây trở ngại cho việc đi lại của người dân, bà con phấn khởi lắm. Tất cả bà con đều hiểu rõ, khi giao thông đi lại thuận tiện, sẽ tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế, phục vụ cho chính nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của người dân, thế nên ai nấy cũng đều nhiệt tình ủng hộ, chẳng tính công, tính của, đường qua nhà nào nhà ấy sẵn sàng hiến đất, tài sản trên đất.

Chỉ tính từ năm 2016 đến nay, hàng trăm hộ dân xã Phú Cường đã hiến hàng chục nghìn mét vuông đất để làm đường, làm nhà văn hóa. Qua đó, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới. Riêng năm 2017, tổng các nguồn vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã ước tính hơn 60 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp trên 10 tỷ đồng. Ngoài ra, Nhà nước cũng đã dành sự quan tâm đầu tư nhiều công trình, đơn cử như nhà lớp học 2 tầng với 6 phòng học của Trường mầm non. Công trình có tổng vốn đầu tư gần 5 tỷ đồng vừa được đưa vào sử dụng, tăng cường thêm về cơ sở vật chất, đảm bảo các yêu cầu dạy và học của thầy, trò nhà trường. Từ sự đầu tư này, kết hợp với nguồn lực trong nhân dân tạo cho bộ mặt Phú Cường một sự thay đổi rõ rệt. Đến nay, cơ bản Phú Cường đã hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới, hiện xã đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để đề nghị công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Thu hái chè, vận chuyển và bảo quản nguyên liệu chè sao cho đảm bảo?

Thẻ:, ,

Thực tế cho thấy, tổ chức thu hái chè đúng kỳ, đúng kỹ thuật là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng chè nguyên liệu. Nếu thu hái chè không đúng kỳ, búp chè sẽ phát triển và già đi, nếu hái không đúng kỹ thuật thì khả năng nẩy búp tiếp theo của cây chè sẽ giảm. Ở các nước phát triển, có những máy chuyên dùng phục vụ cho việc hái chè, trên các nông trường ở nước ta, việc hái chè vẫn còn thực hiện thủ công.

Đọc thêm : Quy trình kỹ thuật hái chè

Nguyên liệu thu hái ở các nương chè được chuyển thẳng về nhà máy, trong quá trình bảo quản và vận chuyển thường nguyên liệu chè có những biến đổi chủ yếu sau:

  • Mất nước và hao tổn chất khô, trong 24 giờ hàm lượng chất khô trong nguyên liệu có thể giảm 5%
  • Bị dập nát, ôi, úa, thay đổi màu sắc, biến chất nếu không cẩn thận trong vận chuyển và bảo quản.làm héo chè
  • Trong quá trình vận chuyển và bảo quản nguyên liệu chè, khối nguyên liệu chè sẽ nóng lên do quá trình hô hấp xảy ra, ban đầu là do sự oxy hóa các chất đường, bột,… sau đó là sự oxy hóa các hợp chất hữu cơ có trong nguyên liệu chè như tannin, axit hữu cơ… Từ đó làm biến chất và hao tổn chất khô của nguyên liệu chè. Ngoài ra, trong lúc vận chuyển do xếp lớp hoặc nén chặt nguyên liệu chè trong các dụng cụ chứa làm nhiệt độ trong nguyên liệu chè tăng lên rất nhiều ( Do nhiệt tỏa ra trong quá trình hô hấp không được tản ra môi trường xung quanh) làm thúc đẩy quá trình hô hấp xảy ra mạnh hơn, nguyên liệu chè trở nên úa đỏ. Nếu khối nguyên liệu chè bị nén chặt trong 20 giờ nhiệt độ có thể lên đến 48 độ ( trong khoảng 30- 35 độ nguyên liệu chè bắt đầu úa đỏ), từ đó hàm lượng tannin và chất hòa tan bị giảm nghiêm trọng.
  • Nhiệt độ của môi trường vận chuyển và bảo quản cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu chè, nhiệt độ của môi trường càng cao, chất lượng của nguyên liệu chè càng giảm. Độ ẩm của môi trường không khí cũng ảnh hưởng đến việc vận chuyển và bảo quản nguyên liệu chè. Nếu độ ẩm của môi trường cao sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển làm giảm chất lượng nguyên liệu chè. Nếu độ ẩm của môi trường quá nhỏ sẽ làm cho phần nước trong nguyên liệu chè nhanh chóng bay hơi, nguyên liệu chè bị héo và hao hụt chất khô.

Qua những vấn đề nêu trên, ta rút ra những điều cần chú ý để tránh sự giảm chất lượng của nguyên liệu chè như sau:

  • Sau khi thu hái chè phải đảm bảo đúng kỹ thuật, tránh dập nát lá chè, dụng cụ đựng lá chè sau thu hái thường đựng trong những loại sọt, giỏ tre đan có nhiều lỗ hổng để thông gió tốt.khi thu hái chè nên đựng vào sọt tre để tránh dập nát
  • Sau khi thu hái chè, nên chuyển ngay nguyên liệu chè về nơi chế biến, không được để lâu quá 10 giờ. Khi vận chuyển nên để nguyên liệu chè trong những sọt sạch, chắc chắn và phải xếp các sọt sao cho đảm bảo thoát nhiệt tốt.
  • Tuyệt đối không đựng nguyên liệu chè trong bao vải, bao tải và không được nén nguyên liệu chè trong sọt.
  • Khi vận chuyển nguyên liệu chè về đến nhà máy mà chưa chế biến kịp phải rải đều nguyên liệu chè trên nền sàn nhà bảo quản (có mái che), chiều dày lớp nguyên liệu 20cm, tránh dẫm đạp lên nguyên liệu và tránh lẫn tạp chất vào nguyên liệu. Sau 2 – 3 giờ phải đảo rủ nguyên liệu, nên dùng sào tre để đảo cho khỏi dập nát nguyên liệu.
  • Khi nhiệt độ lên cao có thể phun ẩm lên khối nguyên liệu và khi trời ẩm ướt, nhiệt độ môi trường thấp thì phải rải lớp nguyên liệu chè mỏng hơn bình thường và chú ý đến sự thông gió. Cần chú ý rút ngắn thời gian từ khi thu hái chè nguyên liệu đến khi đem nguyên liệu chè vào chế biến.

Trên đây là những lưu ý khi thu hái, bảo quản chè. Các bạn quan tâm đến quá trình chế biến chè có thể tham khảo thêm những bài viết tại chebuptancuong.com nhé!

Chè đặc sản Tân Cương giá lên đến 3,5 triệu/kg mà vẫn không đủ bán.

Thẻ:, , , ,

Xưa nay chè Tân Cương, Thái Nguyên vốn nổi tiếng bởi hương thơm và vị đượm khi pha trà. Nhưng tại đây còn có một loại chè đặc biệt mà ít người biết đến, khác biệt hoàn toàn với chè thương phẩm – chè đặc sản nõn loại 1.

Ông Nguyễn Xuân Phong ở Vương Thừa Vũ, Hà Nội là một người ” nghiện ” trà đặc nên thường xuyên nhờ bạn bè trên Thái Nguyên để mua được tận gốc các loại chè đặc sản ngon.

Ông Phong cho biết, chè Tân Cương có rất nhiều loại, chè mỗi nhà làm lại có mùi vị khác nhau và giá cũng khác nhau. Ví dụ như cùng chè Tân Cương, giống chè Kim Tiên năng suất kém nhưng chất lượng lại tốt hơn so với giống khác và lại có mùi thơm riêng. Giá chè thương phẩm thông thường bán lẻ đã trên dưới 500.000 đồng/kg.

Loại ngon hơn một chút theo ông Phong là chè lứa một hay còn gọi là chè xuân. Sở dĩ, người ta gọi như vậy bởi chè này được thu hoạch vào lứa đầu tiên trong năm, nên chất lượng tốt và số lượng cũng rất ít. Nên loại chè này có giá cao hơn chè thương phẩm, giá khoảng 700.000 đồng/kg.

Vừa rót trà ông Phong vừa kể, “Những loại chè kia đã ngon, giá đã cao rồi nhưng chưa thể bì được với loại chè đặc sản hảo hạng ở Tân Cương. Chỉ cần nghe giá thôi cũng đủ biết chất lượng với công sức để có được loại chè này không hề nhỏ. Chè này được người dân Tân Cương gọi nôm na là chè nõn loại 1, để ra được loại chè này, mỗi cây chè người nông dân chỉ được hái mỗi nõn đầu, khi nõn lên chồi 2-3 cm là đã phải hái rồi”.

Nhấp một ngụm trà nóng, ông Phong cho biết, không chỉ cắt chồi sớm mà việc chăm sóc loại chè này cũng vô cùng tỉ mỉ nên giá chè rất cao. Dù là hàng được các công ty thu mua đóng gói, hay mua lẻ qua tiểu thương thì giá tại Hà Nội cũng phải dao động từ 3- 3,5 triệu đồng/kg.

Ông Nguyễn Hải Hoàng, bạn của ông Phong là một người chuyên nhập chè đặc sản  từ Tân Cương về Hà Nội cho biết: Sản phẩm chè đặc sản nõn loại 1 có lợi nhuận cao hơn nhiều so với chè thương phẩm, nhưng nó đòi hỏi người nông dân phải bỏ nhiều công sức. Năng suất của loại chè này chỉ bằng 1/5 so với chè thương phẩm và phải đến lứa mới có chứ không phải lúc nào cũng có để thu hoạch nên có ít hộ trong xã hướng đến sản xuất loại chè này.

Nhiều yếu tố kéo theo giá của sản phẩm này tăng cao, hàng chuẩn mua buôn tại các xóm trong xã Tân Cương, Thái Nguyên đã là 2 triệu đồng/kg. Thậm chí những ngày tết cháy hàng giá nhập buôn của những loại chè này lên đến 2,5 triệu đồng/kg. Theo tiết lộ của ông Hoàng, nguyên nhân một phần cũng bởi cây chè ưa thời tiết nắng ẩm và mưa ẩm nên nếu trời lạnh thì chồi sẽ không lên. Năng suất cây giảm cũng góp phần làm cho hàng ít đi, lại càng khan hàng vào dịp Tết, không đáp ứng được nhu cầu của khách.

chè tôm nõn loại đặc biệt

Ông Hoàng cho biết, loại chè đặc sản ngon này chỉ bán cho anh em bạn bè cũng đã hết hàng rồi, nếu khách quen muốn mua thì cũng phải hẹn trước. Giá chè cao nên mỗi nhà cũng chỉ mua nửa cân một cân để tiếp khách và do khách đông nên hàng vừa đến mọi người đã đến lấy sạch.

Ra tết, mặt hàng này cũng chưa hết hạ nhiệt vì thời điểm này chưa đến lứa chè tiếp theo thu hoạch. Đầu xuân này thường chỉ có chè loại 2 là chè xuân ( chè lứa 1) cung ứng ra thị trường nhiều hơn. Loại này trước tết cũng đã có nhưng không nhiều, giá mua buôn tại Tân Cương dịp tết đã là 1 triệu đồng/ 1 kg, còn thời điểm này chỉ khoảng 700.000 đồng/ kg.

Chị Trịnh Hồng Nhung, ở Khương Đình cho biết, do bố chồng thích uống chè, mà nhà lại hay có khách quý đến chơi nên mỗi lần về quê Thái Nguyên đều phải dặn người quen trước để lại cho 2 cân chè nõn loại 1 thì mới có. Tuy chè đắt nhưng 1 ấm trà có thể pha đến 4- 5 nước vẫn thơm, vị vẫn còn đậm, đọng lại trong miệng, nên bố chồng chị nghiện loại chè này

( Theo Thế Hưng)

 

Cách pha trà xanh ngon và mẹo uống trà có lợi nên biết đến

Thẻ:, , ,

Mỗi ngày, chúng ta được dùng một ly trà xanh thì sức khỏe và vẻ tươi trẻ sẽ được duy trì bền bỉ, ngày một dẻo dai và có thể làm đẹp cho chị em.

Có nhiều người thích uống trà xanh ( chè tươi) nhưng lại chưa biết cách pha trà xanh và hãm trà sao cho nước trong và có màu xanh đẹp. Mới để có một lúc thì bình trà lại chuyển qua màu đỏ, vừa không đẹp mắt vừa không còn hương vị đặc trưng của trà.

Với bài viết này chúng tôi sẽ mách bạn vài mẹo nhỏ để pha trà xanh cực kỳ thơm ngon nha.

Cách pha trà xanh thơm ngon:

Nguyên liệu:

–  200 gr lá chè tươi

–  2 lát gừng tươi

–  3 lít nước sôi nóng ( nhớ là thật sôi)

cách pha trà xanh ngon nhất

Cách pha

Bước 1: Lá trà ngâm qua nước, rửa sạch bụi trên lá, ngâm 10 phút trước khi vớt ra

Bước 2 : Nước sôi tráng ấm tích hoặc tráng bình pha.

Bước 3: Ta vò nhẹ lá trà, sao cho lá bị gẫy gập, nhưng không dập nhé!

Bước 4: Cho lá vào bình, thả 2 lát gừng tươi vào cùng, lấy nửa lít nước sôi đổ vào tráng trà, lắc qua và đổ đi.

Bước 5: Cho nước sôi còn lại vào ấm, không đậy nắp bình và để chè ngấm 20 phút.

Có bạn cho thêm cục đá lạnh vào bình sau 20 phút chè ngấm để chè có màu xanh trong suốt. Vậy là chúng ta sẽ có một bình trà tươi cực thơm ngon và trong xanh lắm nhé!

Cách uống trà có lợi cho sức khỏe

Uống trà mới pha: Sẽ rất tốt nếu bạn uống trà ấm, không quá nóng và cungc không nên để nó nguội hoàn toàn. Trà nguội chứa nhiều vi khuẩn, cũng như đặc tính chống vi khuẩn của nó bị giảm đi rất nhiều.

Không nên cho đường vào trà: Đường kết hợp với nước trà có thể làm mất chất dinh dưỡng. Bạn có thể dùng mật ong thay đường, và không nên cho thêm bất cứ thứ gì vào trà.

không nên cho đường vào trà

Tránh uống trà đặc: Để tận dụng hết ưu điểm của trà xanh, hãy pha trà ở mức độ vừa phải, không quá đặc.

Không uống trà với thuốc: Nếu bạn đang uống trà xanh, không nên uống cùng với bất kỳ loại thuốc nào.

Hạn chế uống nhiều: Mỗi ngày chỉ dùng 1 – 2 tách.

Mỗi ngày chỉ nên uống 1 -2 ly trà xanh

Không nên uống trà lúc đói:

Uống trà đúng thời điểm: Thời gian lý tưởng nhất để uống trà xanh là một giờ trước và sau bữa ăn. Nếu bạn đang ăn kiêng và muốn kiểm soát việc thèm ăn thì  nên uống trà xanh một giờ trước bữa ăn.

*Lưu ý: Công dụng của sản phẩm này có thể thay đổi tủy theo cơ địa và thể trạng của từng người.

Thái Nguyên cần có bước đột phá để giữ vững và nâng cao chất lượng chè

Thẻ:, ,

The https://viagra-malaysia.com/ generic I was taking for Wellbutrin gradually made the depression worse. Always take this medicine with a sufficient amount of water.
Giá trị và chất lượng chè Thái Nguyên đã được khẳng định trong hàng trăm năm qua, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng chè. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập với sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường, các chuyên gia nhận định chè Thái Nguyên cần có bước đột phá để giữ vững và phát triển thương hiệu.

Đọc thêm: Để xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt: Cần chuỗi liên kết bền vững

Tổng diện tích chè của tỉnh Thái Nguyên hiện nay đạt hơn 21 nghìn ha, trong đó diện tích chè đang cho thu hoạch đạt gần 19 nghìn ha, với sản lượng 210 tấn/năm.

Các sản phẩm chè Thái Nguyên đã có mặt trên 63 tỉnh, thành phố trong cả nước và các thị trường xuất khẩu truyền thống như: Pakistan, Đài Loan, Nga, Trung Quốc,….

Nhận thức rõ việc sản xuất chè an toàn là vấn đề sống còn, người trồng chè Thái Nguyên từ khá lâu đã quen với mô hình trồng, sản xuất trà sạch, theo tiêu chuẩn VietGAP. Đồng thời, người nông dân, người sản xuất và kinh doanh chè đều ý thức được việc sử dụng bao bì mẫu mã có vai trò quan trọng thế nào trong việc tiếp thị, giới thiệu sản phẩm  đi liền với cam kết về chất lượng chè, tiêu chuẩn an toàn. Toàn tỉnh hiện nay có hơn 6 nghìn ha chè sạch, chè an toàn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Việc thâm canh và chuyển đổi cơ cấu cây chè trong những năm qua đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích từ 82 triệu đồng/ha năm 2011 lên 120 triệu đồng/ha năm 2016.

Tỉnh Thái Nguyên cũng đặc biệt quan tâm đến việc tạo dựng hình ảnh và bảo vệ thương hiệu “Chè Thái Nguyên” thông qua việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đến nay, nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” được đăng ký bảo hộ tại nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc… cùng với nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” và chỉ dẫn địa lý “Chè Tân Cương”, nhiều sản phẩm chè trong tỉnh như La Bằng, Trại Cài, Vô Tranh, Phổ Yên, Tức Tranh được Cục sở hữu trí tuệ cấp bằng bảo vệ nhãn hiệu tập thể.

Hàng năm, tỉnh Thái Nguyên và các huyện có diện tích trồng chè lớn trong tỉnh tổ chức các hoạt động quảng bá sản phẩm và thương hiệu chè Thái Nguyên như “ Festival Trà Thái Nguyên – Việt Nam” thu hút nhiều doanh nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu tham gia. Tại các hội chợ, nhiều đơn hàng lớn được ký kết, góp phần nâng cao vị thế của sản phẩm chè trong tỉnh. Vừa qua, tại hội chợ chè Quốc tế khu vực Bắc Mỹ tổ chức tại Ca-na-đa, sản phẩm chè Thái Nguyên đã được giải bạc.

Festival chè Thái Nguyên

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đáng ghi nhận này, chè Thái Nguyên cũng còn một số hạn chế nhất định. Mặc dù diện tích và sản lượng chè tăng đều qua từng năm, nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Phần lớn các sản phẩm chè được chế biến tại các hộ gia đình, với quy mô nhỏ, chất lượng chè không đồng đều nên giá trị không cao. Hiện có tới 80% sản phẩm chè Thái Nguyên tiêu thụ ở thị trường trong nước, 20% được xuất khẩu chủ yếu tại các thị trường truyền thống.

Hầu hết các doanh nghiệp chế biến chè ở Thái Nguyên đều không chủ động vùng nguyên liệu. Sản lượng chè xuất khẩu của Thái Nguyên có xu hướng giảm dần, bình quân mỗi năm tăng 2% về sản lượng. Do thiếu chủ động trong việc phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất chủ yếu nhỏ lẻ, manh mún theo mô hình hộ gia đình, cho nên không đáp ứng được yêu cầu của các bạn hàng xuất khẩu lớn.

Chè Thái Nguyên chủ yếu được sản xuất theo quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ

Theo bà Ngô thị Hường- Chủ cơ sở sản xuất chè thắng Hường tại Xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên, thời gian qua có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đặt vấn đề nhập khẩu số lượng chè thành phẩm chất lượng chè cao, nhưng do các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Nguyên nhân do thiếu vốn và không có sự đầu tư bài bản từ khâu nguyên liệu, cây giống thu hái và chế biến. Đây cũng là điểm yếu của các cơ sở trong việc nâng cao chất lượng chè và hiệu quả của sản phẩm.

Theo Viện Chính sách chiến lược, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, bản thân chè truyền thống của Thái Nguyên đã khá đa dạng với các loại trà móc câu, trà búp, trà xanh… song chúng ta chưa tìm, chọn cho được một mẫu mã thống nhất, đủ sức hấp dẫn cũng như việc đảm bảo chất lượng chung cho các loại trà Thái Nguyên. Việc phát triển, sáng tạo mới từ sản phẩm truyền thống, để đa dạng hóa hình thức sản phẩm cũng cần được khuyến khích. Thái Nguyên hoàn toàn có thể sản xuất các loại: Trà tươi, trà khô, trà Olong, trà tẩm ướp, tinh bột trà, bánh hương vị trà…

Theo giám đốc một công ty sản xuất chè với quy mô lớn tại Thái Nguyên cho biết, mặc dù doanh thu của công ty đến 30 tỷ đồng/ năm và xuất khẩu chiếm tới 30%, nhưng hiện nay vẫn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là về cơ chế chính sách.  Điều này đòi hỏi trong công tác quản lý cần có quy hoạch cụ thể và giao cho các doanh nghiệp triển khai, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ từ khâu câu giống, phân bón, khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng của các sản phẩm chè. Cơ chế giao đất cho doanh nghiệp xây dựng vùng chè mẫu, chuyên canh, hỗ trợ vốn cũng như ưu đãi về thuế nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, nhất là tại thị trường Quốc tế.

Theo Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Đoàn Văn Tuấn, hiện nay tỉnh đã hoàn tất quy hoạch phát triển ngành chè đến năm 2020, trong đó xác định cây chè là cây thế mạnh của tỉnh và tập trung đầu tư để phát triển theo hướng bền vững, nâng cao năng suất và chất lượng chè. Bên cạnh việc mở rộng diện tích chè chất lượng cao, hướng tới các thị trường xuất khẩu mới, tiềm năng, tỉnh tập trung vào đầu tư xây dựng Tân Cương trở thành vùng sản xuất chè chất lượng cao kết hợp du lịch sinh thái. Tập trung  các nguồn lực, đầu tư khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào các vùng chè chủ lực, nhất là thu hút đầu tư của các doanh nghiệp và hợp tác xã vào chuỗi liên kết sản xuất chè, khuyến khích đầu tư vào khâu chế biến sâu và tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế quản lý, để bảo vệ và phát triển thương hiệu chè Thái Nguyên là một trong những thương hiệu chè uy tín trong nước và Quốc tế.

( Nguồn: Báo nhandan)

Những loại thuốc diệt bọ xít muỗi hiệu quả

Thẻ:, , ,

Bọ xít muỗi có tên khoa học là : Helopeltis. Tên tiếng anh : Tea Mosquito Bug

  1. Đặc điểm hình thái:

Trưởng thành: cơ thể thon dài ( 5- 10mm) râu màu nâu, mảnh dài quá than. Bọ xít muỗi đực nhỏ hơn khoảng 4 mm. Toàn than có màu nâu xanh, lung nâu vàng. Đầu có màu nâu, có các vệt vàng rộng, phía trên có vệt nhỏ hơn. Mắt có màu nâu đen. Cả con đực, con cái trông giống muỗi nên gọi là bọ xít muỗi.

Ấu trùng: có hình dáng giống với con trưởng thành và trải qua 5 tuổi

  1. Phát sinh gây hại:

Vòng đời kéo dài từ 34-40 ngày

Bọ xít muỗi phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25-28 °C, ẩm độ 90%, vì thế chúng thường hoạt động mạnh vào sang sớm hoặc chiều tối. Bọ xít muỗi gây hại quanh năm nhưng sẽ tập chung vào tháng có khí hậu mát

Bọ xít muỗi tập chung 2-3 con/búp chè và lá non chích hút nhựa búp chè tạo nên vết màu nâu đậm.

Trưởng thành gây nên vết chích lớn và thưa, ngược lại ấu trùng vết chích nhỏ và dày hơn. Búp và lá chè non biến dạng cong queo, khô và đen, cây sinh trưởng chậm, còi cọc làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất trà.

3. Biện pháp phòng trừ

Xem thêm : Biện pháp phòng trừ bọ xít muỗi hại chè Thái Nguyên

Biện pháp canh tác :

  • Trồng và chăm sóc cây chè khỏe mạnh
  • Thu hái chè và chăm sóc chè đúng kỹ thuật để giúp cây chè hồi phục tốt. Hái chè thường xuyên ( hái san trật) sẽ loại bỏ được nhiều trứng bọ xít muỗi. Khi hái chè chú ý hái hết toàn bộ các búp bị hại, đồng thời có các biện pháp chăm sóc phù hợp như bón phân, tưới nước, diệt cỏ dại, tạo độ thông thoáng cho nương chè để cây chè nhanh chóng ra các chồi mới.
  • Loại bỏ các cây ký chủ phụ của bọ xít muỗi trong và xung quanh nương chè
  • Không nên trồng cây che bóng quá nhiều trên nương chè
  • Bảo vệ các loại thiên địch trên nương chè bằng cách giảm phun thuốc bảo vệ thực vật và chọn lọc các loại thuốc bảo vệ thực vật ít độc hại với ký thiên địch.
  • Người trồng chè phải thường xuyên kiểm tra nương chè để phát hiện, đánh giá để có các quyết định kịp thời đặc biệt vào thời điểm bọ xít muỗi phát sinh gây hại nặng.
  • Theo dõi bọ xít muỗi, có thể đếm trực tiếp bọ xít trên búp hoặc theo dõi lien tục tỉ lệ búp bị hại.
  • Trên cơ sở theo dõi mật độ, tỷ lệ búp bị hại, kết hợp với số lượng thiên địch có trên nương chè, tình hình thời tiết khí hậu, biện pháp thu hái…để có quyết định có nên can thiệp bằng thuốc trừ sâu hay không
  • Chỉ sử dụng thuốc khi điều tra mật độ đạt ngưỡng phòng trừ
  • Đảm bảo thời gian cách ly đúng quy định với từng loại thuốc BVTV

Các loại thuốc diệt bọ xít muỗi hiệu quả

THUỐC TRỪ SÂU NOUVO 3,6EC

Tên thương mại: NOUVO 3.6EC

Hoạt chất: Abamectin 36g/l

Quy cách : chai 100 ml, thùng 96 chai

Độ độc: nhóm độc II

Cơ chế tác động:

– Tác động tiếp xúc

– Gây rối loạn hoạt động  sinh lý của hệ thần kinh côn trùng, kích thích làm tăng quá trình tạo ra chất GABA, ngăn chặn các xung điện thần kinh trong hệ thần kinh vận động của côn trùng. Khi sâu tiếp xúc hoặc ăn phải thuốc sẽ lập tức xuất hiện trạng thái tê liệt, không ăn, không hoạt động, không có khả năng phá hại cây trồng, sau đó từ 2 – 4 ngày sâu sẽ chết.

Nhà sản xuất: Quingdao Hansen Biologic Science Co., Ltd ( P. R. C)

Đăng ký và phân phối tại Việt Nam: Công ty Cổ phần Nông Dược H.A.I. 28 Mạc Đĩnh Chi. Quận 1, HCM

TREBON 10 EC

Tên hoạt chất: Etofenprox ( min 96%)

Loại thuốc: Thuốc trừ sâu

Nhóm thuốc: Pyrethroit

Danh mục: được phép sử dụng

Dạng thuốc: 10 EC: Nhũ dầu

Tác động của thuốc: Tác độngt iếp xúc và vị độc

TREBON-10EC

Nhóm độc: Nhóm 3

Mức độ độc: với cá: độc trung bình, Với ong: ít độc

Đặc điểm chung: tác động lên thần kinh côn trùng và gây chết nhanh

ACTARA 25WG

Tên hoạt chất: Thiamwthoxam ( min 95 %)

Loại thuốc : Thuốc trừ sâu

Nhóm thuốc : Neonicotinoit

Danh mục thuốc : Được phép sử dụng

Dạng thuốc : 25WG

Tác động của thuốc: Tác động tiếp xúc, vị độc; thẩm thấu nhanh, dịch chuyển hướng ngọn

ACTARA-25-WG

Nhóm độc: Nhóm 3

Mức độ độc: Với cá: không độc, với ong: độc trung bình

Liều lượng sử dụng: 25-80g/ha

Thời gian cách ly: 5 ngày

Khả năng hỗn hợp: Không hỗn hợp với thuốc có tính kiềm

Đặc điểm chung: Kích động axetylcholin nicotinic ảnh hưởng xinap trong hệ thần kinh trung ương

MIDAN 10WP

Tên hoạt chất: Imidacloprid ( min 96%)

Loại thuốc: Thuốc trừ sâu

Nhóm thuốc: Neonicotinoit

Danh mục thuốc: được phép sử dụng:

Dạng thuốc: 10 WP bột phân tán xử lý hạt giống

Tui Midan 15g nhan dien moi

Tác động của thuốc: tác đọng tiếp xúc, vị độc; nội hấp mạnh, dịch chuyển hướng ngọn

Nhóm độc: nhóm 3

Mức độ độc: Với cá : Không độc, với ong: ít độc

Liều lượng sử dụng: 250- 600 gam / ha

Cách dung : Lượng nước phun 400-600 lít/ ha

Thời gian cách ly: 7 ngày

Khả năng hỗn hợp: Có thể hỗn hợp với các thuốc khác

Đặc điểm chung: Tác động đến hệ thần kinh côn trùng

VIMATRINE 0.6 L

Tên hoạt chất : Oxymatrine

Loại thuốc : Thuốc trừ sâu

Nhóm thuốc : Trừ sâu khác

Danh mục thuốc: Được phép sử dụng

Dạng thuốc : Dung dịch

Nhóm độc: Nhóm 2

vimatrine 100 ml

Đặc điểm chung: Là thuốc trừ sâu sinh học có cơ chế tác động lên hệ thần kinh trung tâm của côn trùng làm ức chế hơi thở và làm mất cân đối sự vận động nên có hiệu lực đối với các loài sâu đã kháng thuốc

Thuốc có độ độc thấp, ít gây hại cho các loại thiên địch, không để lại dư lượng trên nông sản

Thời gian cách ly từ 3- 5 ngày.

Ngoài các loại thuốc trên, chúng ta có thể dung các loại thuốc khác như:

  • Imidacloprid ( Midan 10 WP)
  • Thiamethoxam ( Actara 25 WG , Tata 25 WG )
  • Citrus oil ( MAP Green 10 AS)
  • Abemectin ( Javatin 36 EC)
  • Abamectin 17,5 g/l + Chlorfluazuron 1.5 g/l ( Confitim 18 EC)
  • Abamectin 35 g/l + Emamectin benzoate 1 g/l ( Sieufatoc 36 EC)
  • Acetamiprid ( Actatoc 150 EC)
  • Azadirachtin ( Vinaneem 2 SL, vineem 1500 EC)
  • BT ( Dipel 6.4 DF)
  • Beta- Cyfluthrin ( Bulldock 025 EC)

Việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu diệt bọ xít muỗi cũng cần tuân thủ các nguyên tắc sử dụng thuốc trừ sâu khác như:

Phải sử dụng đúng thuốc: Không nên sử dụng một loại thuốc trừ sâu trong suốt mùa vụ hoặc từ năm này sang năm khác. Nên ưu tiên mua những loại thuốc ít độc nhất, thời gian cách ly ngắn nhất và mua những loại thuốc có tác động chọn lọc( có hiệu lực trừ sâu cao, ít gây độc hại cho sinh vật có ích)

Đúng liều lượng, nồng độ: Việc sử dụng thuốc không đúng liều lượng, nồng độ làm cho dịch hại chống thuốc, quen thuốc và gây khó khăn cho việc phòng trừ

Đúng lúc: Phun thuốc đúng lúc là phun thuốc vào những thời điểm mà dịch bệnh trên đồng ruộng dễ bị tiêu diệt nhất. Sâu hại thường mẫn cảm nhất với thuốc BVTV khi chúng ở giai đoạn sâu non tuổi nhỏ.

Đúng cách: Phải pha thuốc đúng cách , phun đúng cách, phun rải đúng cách , không tự ý trộn nhiều loại thuốc với nhau để phun trên đồng ruộng.