Xây dựng nông thôn mới trên xã chè

Thẻ:,

Xã Phú Cường xây dựng nông thôn mới trên xã chè với cách làm: Lấy nhân dân làm trung tâm, lấy việc nâng cao đời sống của bà con làm thước đo trong thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Phú Cường đã khơi dậy được sức mạnh từ chính trong nội lực nhân dân để từng bước hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên xã chè.

Xây dựng nông thôn mới trên xã chè
Xây dựng nông thôn mới trên xã chè

Phú Cường là xã miền núi của huyện Đại Từ. Xã có trên 1.200 hộ, chia làm 10 xóm với 5 dân tộc anh em cùng chung sống, đó là: Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí. Trước đây, do ruộng ít, lại không tập trung, chủ yếu là các diện tích chè trung du già cỗi, không được đầu tư chăm sóc, nên Phú Cường luôn là một trong những xã nghèo nhất huyện. Đời sống người dân nghèo nàn, giao thông đi lại khó khăn, hầu hết là đường đất, trời mưa thì lầy lội, trơn trượt, trời nắng thì bụi bẩn, nên việc thực hiện xây dựng nông thôn mới ở thời điểm này là hết sức xa vời.

Ông Nguyễn Kim Chinh, Chủ tịch UBND xã cho biết: Mục tiêu là sẽ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới trên xã chè trong năm 2017, nhưng chỉ mới đầu năm thôi, nhìn khối lượng công việc ngồn ngộn, tôi còn nghĩ sẽ khó hoàn thành. Bởi thời điểm này, xã mới đạt được 13/19 tiêu chí, còn lại 6 tiêu chí thì đều là những tiêu chí khó, đó là: thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, hộ nghèo, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội và giao thông. Trong đó, khó nhất vẫn là hộ nghèo và cơ sở hạ tầng giao thông. Lúc đó, chúng tôi chỉ biết dành sự quyết tâm cao nhất để từng bước thực hiện.

Với suy nghĩ, quan trọng nhất là phải có được sự đồng thuận của toàn dân, trong những năm gần đây, xã đã tăng cường vận động nhân dân đầu tư sản xuất để nâng cao đời sống, khi có đời sống ổn định, kinh tế phát triển thì mới có thể làm được các việc khác. Với hơn 90% số hộ có thu nhập từ chè, cây chè là cây trồng mũi nhọn, chủ lực trong phát triển kinh tế ở địa phương, bà con trong xã tích cực đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống chè từ chè trung du sang trồng các giống chè cành có năng suất, chất lượng cao. Những năm gần đây, việc đưa các giống chè mới vào trồng mới và trồng thay thế đã trở thành làn sóng rộng khắp toàn xã, chỉ tính trong năm 2016, toàn xã chuyển đổi được 25ha, chủ yếu là các giống: LDP1, Phúc Vân Tiên, TRI 777…

Năm 2017, xã vừa mới hoàn thành trồng thay thế được gần 30ha chè giống mới, đạt gần 200% so với kế hoạch. Bên cạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, xã đã thực hiện chuyển đổi sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất. Đến nay, xã có 2 hợp tác xã và 1 tổ hợp tác sản xuất chè an toàn, từng bước tạo dựng thương hiệu chè Phú Cường, từ đó giá bán sản phẩm chè địa phương ngày càng tăng cao. Hiện nay, toàn xã có 270ha chè, trong đó diện tích chè kinh doanh là 240ha, giá bán chè khô trung bình từ 100-200 nghìn đồng/kg. Với diện tích này, cây chè đã phủ khắp các diện tích đồi, bãi và xã đang tiếp tục mở rộng các diện tích sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP nhằm nâng cao chất lượng chè, sức cạnh tranh và giá bán sản phẩm. Với giá trị kinh tế mà cây chè mang lại, chè đã thực sự trở thành cây xóa đói, giảm nghèo và dần dần trở thành cây làm giàu cho người dân Phú Cường. Nhờ đầu tư thâm canh tốt cây chè, đời sống của bà con ở đây đã từng bước được nâng lên, mỗi năm xã giảm được 5-8% hộ nghèo, kết thúc năm 2016, số hộ nghèo của xã còn trên 17%, hiện nay, xã đang rà soát lại và bình xét hộ nghèo của năm 2017, dự kiến sẽ chỉ còn dưới 12%. Thu nhập bình quân đầu người của xã hiện đạt gần 30 triệu đồng/người/năm, trong đó chủ yếu là thu từ cây chè.

Kinh tế phát triển, đời sống nâng cao, người dân có điều kiện để quan tâm, đóng góp, ủng hộ xây dựng cơ sở hạ tầng như: Đường giao thông, nhà văn hóa, kênh mương… Chưa bao giờ, khối lượng xây dựng ở Phú Cường lại nhiều như thời gian gần đây. Việc thi đua làm đường, làm nhà văn hóa đã trở thành phong trào rộng khắp các xóm trên địa bàn xã. Với khí thế thi đua sôi nổi, hàng loạt các công trình phúc lợi công cộng được xây dựng. Chỉ trong năm 2017, 3 tuyến đường liên xã nối các xã: Phúc Cường, Minh Tiến, Phú Thịnh với tổng chiều dài trên 6km đã được hoàn thành, cùng với đó, 41 tuyến đường liên xóm, trục xóm, ngõ xóm cũng đã được đổ bê tông theo tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn mới.

Ông Nguyễn Khánh Toàn, Trưởng xóm Văn Cường II cho biết: Trước đây, xóm chẳng có mét đường bê tông nào, người dân đi lại rất vất vả, tư thương vào thu mua chè cũng e ngại lắm, nhất là trời mưa, người dân phải mang chè đi bán. Nhưng giờ thì khác rồi, bước chân ra là có đường bê tông sạch đẹp, trời mưa hay nắng cũng không gây trở ngại cho việc đi lại của người dân, bà con phấn khởi lắm. Tất cả bà con đều hiểu rõ, khi giao thông đi lại thuận tiện, sẽ tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế, phục vụ cho chính nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của người dân, thế nên ai nấy cũng đều nhiệt tình ủng hộ, chẳng tính công, tính của, đường qua nhà nào nhà ấy sẵn sàng hiến đất, tài sản trên đất.

Chỉ tính từ năm 2016 đến nay, hàng trăm hộ dân xã Phú Cường đã hiến hàng chục nghìn mét vuông đất để làm đường, làm nhà văn hóa. Qua đó, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới. Riêng năm 2017, tổng các nguồn vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã ước tính hơn 60 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp trên 10 tỷ đồng. Ngoài ra, Nhà nước cũng đã dành sự quan tâm đầu tư nhiều công trình, đơn cử như nhà lớp học 2 tầng với 6 phòng học của Trường mầm non. Công trình có tổng vốn đầu tư gần 5 tỷ đồng vừa được đưa vào sử dụng, tăng cường thêm về cơ sở vật chất, đảm bảo các yêu cầu dạy và học của thầy, trò nhà trường. Từ sự đầu tư này, kết hợp với nguồn lực trong nhân dân tạo cho bộ mặt Phú Cường một sự thay đổi rõ rệt. Đến nay, cơ bản Phú Cường đã hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới, hiện xã đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để đề nghị công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Thu hái chè, vận chuyển và bảo quản nguyên liệu chè sao cho đảm bảo?

Thẻ:, ,

Thực tế cho thấy, tổ chức thu hái chè đúng kỳ, đúng kỹ thuật là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng chè nguyên liệu. Nếu thu hái chè không đúng kỳ, búp chè sẽ phát triển và già đi, nếu hái không đúng kỹ thuật thì khả năng nẩy búp tiếp theo của cây chè sẽ giảm. Ở các nước phát triển, có những máy chuyên dùng phục vụ cho việc hái chè, trên các nông trường ở nước ta, việc hái chè vẫn còn thực hiện thủ công.

Đọc thêm : Quy trình kỹ thuật hái chè

Nguyên liệu thu hái ở các nương chè được chuyển thẳng về nhà máy, trong quá trình bảo quản và vận chuyển thường nguyên liệu chè có những biến đổi chủ yếu sau:

  • Mất nước và hao tổn chất khô, trong 24 giờ hàm lượng chất khô trong nguyên liệu có thể giảm 5%
  • Bị dập nát, ôi, úa, thay đổi màu sắc, biến chất nếu không cẩn thận trong vận chuyển và bảo quản.làm héo chè
  • Trong quá trình vận chuyển và bảo quản nguyên liệu chè, khối nguyên liệu chè sẽ nóng lên do quá trình hô hấp xảy ra, ban đầu là do sự oxy hóa các chất đường, bột,… sau đó là sự oxy hóa các hợp chất hữu cơ có trong nguyên liệu chè như tannin, axit hữu cơ… Từ đó làm biến chất và hao tổn chất khô của nguyên liệu chè. Ngoài ra, trong lúc vận chuyển do xếp lớp hoặc nén chặt nguyên liệu chè trong các dụng cụ chứa làm nhiệt độ trong nguyên liệu chè tăng lên rất nhiều ( Do nhiệt tỏa ra trong quá trình hô hấp không được tản ra môi trường xung quanh) làm thúc đẩy quá trình hô hấp xảy ra mạnh hơn, nguyên liệu chè trở nên úa đỏ. Nếu khối nguyên liệu chè bị nén chặt trong 20 giờ nhiệt độ có thể lên đến 48 độ ( trong khoảng 30- 35 độ nguyên liệu chè bắt đầu úa đỏ), từ đó hàm lượng tannin và chất hòa tan bị giảm nghiêm trọng.
  • Nhiệt độ của môi trường vận chuyển và bảo quản cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu chè, nhiệt độ của môi trường càng cao, chất lượng của nguyên liệu chè càng giảm. Độ ẩm của môi trường không khí cũng ảnh hưởng đến việc vận chuyển và bảo quản nguyên liệu chè. Nếu độ ẩm của môi trường cao sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển làm giảm chất lượng nguyên liệu chè. Nếu độ ẩm của môi trường quá nhỏ sẽ làm cho phần nước trong nguyên liệu chè nhanh chóng bay hơi, nguyên liệu chè bị héo và hao hụt chất khô.

Qua những vấn đề nêu trên, ta rút ra những điều cần chú ý để tránh sự giảm chất lượng của nguyên liệu chè như sau:

  • Sau khi thu hái chè phải đảm bảo đúng kỹ thuật, tránh dập nát lá chè, dụng cụ đựng lá chè sau thu hái thường đựng trong những loại sọt, giỏ tre đan có nhiều lỗ hổng để thông gió tốt.khi thu hái chè nên đựng vào sọt tre để tránh dập nát
  • Sau khi thu hái chè, nên chuyển ngay nguyên liệu chè về nơi chế biến, không được để lâu quá 10 giờ. Khi vận chuyển nên để nguyên liệu chè trong những sọt sạch, chắc chắn và phải xếp các sọt sao cho đảm bảo thoát nhiệt tốt.
  • Tuyệt đối không đựng nguyên liệu chè trong bao vải, bao tải và không được nén nguyên liệu chè trong sọt.
  • Khi vận chuyển nguyên liệu chè về đến nhà máy mà chưa chế biến kịp phải rải đều nguyên liệu chè trên nền sàn nhà bảo quản (có mái che), chiều dày lớp nguyên liệu 20cm, tránh dẫm đạp lên nguyên liệu và tránh lẫn tạp chất vào nguyên liệu. Sau 2 – 3 giờ phải đảo rủ nguyên liệu, nên dùng sào tre để đảo cho khỏi dập nát nguyên liệu.
  • Khi nhiệt độ lên cao có thể phun ẩm lên khối nguyên liệu và khi trời ẩm ướt, nhiệt độ môi trường thấp thì phải rải lớp nguyên liệu chè mỏng hơn bình thường và chú ý đến sự thông gió. Cần chú ý rút ngắn thời gian từ khi thu hái chè nguyên liệu đến khi đem nguyên liệu chè vào chế biến.

Trên đây là những lưu ý khi thu hái, bảo quản chè. Các bạn quan tâm đến quá trình chế biến chè có thể tham khảo thêm những bài viết tại chebuptancuong.com nhé!

Chè đặc sản Tân Cương giá lên đến 3,5 triệu/kg mà vẫn không đủ bán.

Thẻ:, , , ,

Xưa nay chè Tân Cương, Thái Nguyên vốn nổi tiếng bởi hương thơm và vị đượm khi pha trà. Nhưng tại đây còn có một loại chè đặc biệt mà ít người biết đến, khác biệt hoàn toàn với chè thương phẩm – chè đặc sản nõn loại 1.

Ông Nguyễn Xuân Phong ở Vương Thừa Vũ, Hà Nội là một người ” nghiện ” trà đặc nên thường xuyên nhờ bạn bè trên Thái Nguyên để mua được tận gốc các loại chè đặc sản ngon.

Ông Phong cho biết, chè Tân Cương có rất nhiều loại, chè mỗi nhà làm lại có mùi vị khác nhau và giá cũng khác nhau. Ví dụ như cùng chè Tân Cương, giống chè Kim Tiên năng suất kém nhưng chất lượng lại tốt hơn so với giống khác và lại có mùi thơm riêng. Giá chè thương phẩm thông thường bán lẻ đã trên dưới 500.000 đồng/kg.

Loại ngon hơn một chút theo ông Phong là chè lứa một hay còn gọi là chè xuân. Sở dĩ, người ta gọi như vậy bởi chè này được thu hoạch vào lứa đầu tiên trong năm, nên chất lượng tốt và số lượng cũng rất ít. Nên loại chè này có giá cao hơn chè thương phẩm, giá khoảng 700.000 đồng/kg.

Vừa rót trà ông Phong vừa kể, “Những loại chè kia đã ngon, giá đã cao rồi nhưng chưa thể bì được với loại chè đặc sản hảo hạng ở Tân Cương. Chỉ cần nghe giá thôi cũng đủ biết chất lượng với công sức để có được loại chè này không hề nhỏ. Chè này được người dân Tân Cương gọi nôm na là chè nõn loại 1, để ra được loại chè này, mỗi cây chè người nông dân chỉ được hái mỗi nõn đầu, khi nõn lên chồi 2-3 cm là đã phải hái rồi”.

Nhấp một ngụm trà nóng, ông Phong cho biết, không chỉ cắt chồi sớm mà việc chăm sóc loại chè này cũng vô cùng tỉ mỉ nên giá chè rất cao. Dù là hàng được các công ty thu mua đóng gói, hay mua lẻ qua tiểu thương thì giá tại Hà Nội cũng phải dao động từ 3- 3,5 triệu đồng/kg.

Ông Nguyễn Hải Hoàng, bạn của ông Phong là một người chuyên nhập chè đặc sản  từ Tân Cương về Hà Nội cho biết: Sản phẩm chè đặc sản nõn loại 1 có lợi nhuận cao hơn nhiều so với chè thương phẩm, nhưng nó đòi hỏi người nông dân phải bỏ nhiều công sức. Năng suất của loại chè này chỉ bằng 1/5 so với chè thương phẩm và phải đến lứa mới có chứ không phải lúc nào cũng có để thu hoạch nên có ít hộ trong xã hướng đến sản xuất loại chè này.

Nhiều yếu tố kéo theo giá của sản phẩm này tăng cao, hàng chuẩn mua buôn tại các xóm trong xã Tân Cương, Thái Nguyên đã là 2 triệu đồng/kg. Thậm chí những ngày tết cháy hàng giá nhập buôn của những loại chè này lên đến 2,5 triệu đồng/kg. Theo tiết lộ của ông Hoàng, nguyên nhân một phần cũng bởi cây chè ưa thời tiết nắng ẩm và mưa ẩm nên nếu trời lạnh thì chồi sẽ không lên. Năng suất cây giảm cũng góp phần làm cho hàng ít đi, lại càng khan hàng vào dịp Tết, không đáp ứng được nhu cầu của khách.

chè tôm nõn loại đặc biệt

Ông Hoàng cho biết, loại chè đặc sản ngon này chỉ bán cho anh em bạn bè cũng đã hết hàng rồi, nếu khách quen muốn mua thì cũng phải hẹn trước. Giá chè cao nên mỗi nhà cũng chỉ mua nửa cân một cân để tiếp khách và do khách đông nên hàng vừa đến mọi người đã đến lấy sạch.

Ra tết, mặt hàng này cũng chưa hết hạ nhiệt vì thời điểm này chưa đến lứa chè tiếp theo thu hoạch. Đầu xuân này thường chỉ có chè loại 2 là chè xuân ( chè lứa 1) cung ứng ra thị trường nhiều hơn. Loại này trước tết cũng đã có nhưng không nhiều, giá mua buôn tại Tân Cương dịp tết đã là 1 triệu đồng/ 1 kg, còn thời điểm này chỉ khoảng 700.000 đồng/ kg.

Chị Trịnh Hồng Nhung, ở Khương Đình cho biết, do bố chồng thích uống chè, mà nhà lại hay có khách quý đến chơi nên mỗi lần về quê Thái Nguyên đều phải dặn người quen trước để lại cho 2 cân chè nõn loại 1 thì mới có. Tuy chè đắt nhưng 1 ấm trà có thể pha đến 4- 5 nước vẫn thơm, vị vẫn còn đậm, đọng lại trong miệng, nên bố chồng chị nghiện loại chè này

( Theo Thế Hưng)

 

Cách pha trà xanh ngon và mẹo uống trà có lợi nên biết đến

Thẻ:, , ,

Mỗi ngày, chúng ta được dùng một ly trà xanh thì sức khỏe và vẻ tươi trẻ sẽ được duy trì bền bỉ, ngày một dẻo dai và có thể làm đẹp cho chị em.

Có nhiều người thích uống trà xanh ( chè tươi) nhưng lại chưa biết cách pha trà xanh và hãm trà sao cho nước trong và có màu xanh đẹp. Mới để có một lúc thì bình trà lại chuyển qua màu đỏ, vừa không đẹp mắt vừa không còn hương vị đặc trưng của trà.

Với bài viết này chúng tôi sẽ mách bạn vài mẹo nhỏ để pha trà xanh cực kỳ thơm ngon nha.

Cách pha trà xanh thơm ngon:

Nguyên liệu:

–  200 gr lá chè tươi

–  2 lát gừng tươi

–  3 lít nước sôi nóng ( nhớ là thật sôi)

cách pha trà xanh ngon nhất

Cách pha

Bước 1: Lá trà ngâm qua nước, rửa sạch bụi trên lá, ngâm 10 phút trước khi vớt ra

Bước 2 : Nước sôi tráng ấm tích hoặc tráng bình pha.

Bước 3: Ta vò nhẹ lá trà, sao cho lá bị gẫy gập, nhưng không dập nhé!

Bước 4: Cho lá vào bình, thả 2 lát gừng tươi vào cùng, lấy nửa lít nước sôi đổ vào tráng trà, lắc qua và đổ đi.

Bước 5: Cho nước sôi còn lại vào ấm, không đậy nắp bình và để chè ngấm 20 phút.

Có bạn cho thêm cục đá lạnh vào bình sau 20 phút chè ngấm để chè có màu xanh trong suốt. Vậy là chúng ta sẽ có một bình trà tươi cực thơm ngon và trong xanh lắm nhé!

Cách uống trà có lợi cho sức khỏe

Uống trà mới pha: Sẽ rất tốt nếu bạn uống trà ấm, không quá nóng và cungc không nên để nó nguội hoàn toàn. Trà nguội chứa nhiều vi khuẩn, cũng như đặc tính chống vi khuẩn của nó bị giảm đi rất nhiều.

Không nên cho đường vào trà: Đường kết hợp với nước trà có thể làm mất chất dinh dưỡng. Bạn có thể dùng mật ong thay đường, và không nên cho thêm bất cứ thứ gì vào trà.

không nên cho đường vào trà

Tránh uống trà đặc: Để tận dụng hết ưu điểm của trà xanh, hãy pha trà ở mức độ vừa phải, không quá đặc.

Không uống trà với thuốc: Nếu bạn đang uống trà xanh, không nên uống cùng với bất kỳ loại thuốc nào.

Hạn chế uống nhiều: Mỗi ngày chỉ dùng 1 – 2 tách.

Mỗi ngày chỉ nên uống 1 -2 ly trà xanh

Không nên uống trà lúc đói:

Uống trà đúng thời điểm: Thời gian lý tưởng nhất để uống trà xanh là một giờ trước và sau bữa ăn. Nếu bạn đang ăn kiêng và muốn kiểm soát việc thèm ăn thì  nên uống trà xanh một giờ trước bữa ăn.

*Lưu ý: Công dụng của sản phẩm này có thể thay đổi tủy theo cơ địa và thể trạng của từng người.

Có nên phát triển sản xuất chè vụ đông tại Thái Nguyên?

Thẻ:,

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cùng đi tìm hiểu về thực tế sản xuất chè vụ đông tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Vụ đông năm 2016, do thời tiết ấm ám, độ ẩm cao hơn so với những năm trước nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho diện tích chè vụ đông trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phát triển khá tốt. Điểm đáng lưu ý là mặc dù năng suất chè tăng lên nhưng giá bán sản phẩm vẫn giữ nguyên, giúp cho nhiều hộ làm chè có thu nhập cao hơn.

Nhiều hộ dân xóm Cây Thị, Xã Phúc Xuân ( TP Thái Nguyên) rất phấn khởi khi lứa chè vụ đông lần 3 trong năm 2016 cho thu hoạch đúng vào dịp giáp tết Nguyên Đán. Đáng mừng hơn là nhờ những trận mưa rào nhẹ từ những ngày gần tết đã giúp cho chè búp xanh hơn, chất lượng chè thành phẩm tốt hơn. Chị Nguyễn Thị Mận, một hộ chuyên sản xuất chè vụ đông trong xóm cho biết: Thời tiết thuận lợi, năng suất chè vụ đông tăng lên đáng kể. Nếu như những năm trước, 1 sào chè cho thu hoạch từ 7 – 9 kg búp khô/ lứa thì năm 2016 đạt từ 11- 13 kg.

Theo như tìm hiểu, không chỉ riêng xã Phúc Xuân mà nhiều xã khác trong tỉnh như Tân Cương, Phúc Trìu, Quyết Thắng ( TP Thái Nguyên); Minh Lập, Hòa Bình, Văn Lăng, Hợp Tiến ( Đồng Hỷ); Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô, Sơn Cẩm ( Phú Lương); Thành Công, Phúc Thuận, Phúc Tân ( TX Phổ Yên), diện tích chè vụ đông cũng phát triển tốt và cho thu hái đúng vào dịp tết nguyên đán. Điều đáng nói là dù năng suất chè đạt cao hơn nhưng giá bán sản phẩm không giảm, trung bình một cân chè búp khô vẫn bán được với giá từ 200.000 – 300.000 đồng. Thậm chí ở nhiều nơi có kinh nghiệm sản xuất chè vụ đông như ở các xóm Hồng Thái 1, Hồng Thái 2 xã Tân Cương ( TP Thái Nguyên); Khuôn Gà, Thị trấn Hùng Sơn ( Đại Từ); Khe Cốc, Xã Tức Tranh ( Phú Lương), giá bán chè còn nhích lên khoảng 20.000 đến 25.000đồng/ kg so với những năm trước.

Ông Hoàng Văn Dũng, Phó giám đốc sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết: Khoảng 15 năm trở lại đây, người dân không chỉ đầu tư cho sản xuất chè vụ đông ở những diện tích chè gần sông suối, hồ, đập  mà còn khoan giếng để chủ động được  nguồn nước tưới  và mở rộng diện tích sản xuất chè vụ đông. Nhờ đó, diện tích chè vụ đông của tỉnh tăng lên đáng kể. Hiện, toàn tỉnh có trên 21,3 nghìn ha chè, trong đó có gần 18,8 nghìn ha chè cho sản phẩm thì diện tích chè vụ đông chiếm khoảng vài nghìn ha, tăng vài trăm ha so với 3, 4 năm trước.

Từ thục tế cho thấy, chè vụ đông có chất lượng tốt, vị đậm và thơm ngon nên được người tiêu dùng ưa chuộng. Giá bán chè vụ đông cũng cao hơn chè chính vụ gấp rưỡi hoặc gấp đôi, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán khi nhu cầu tiêu thụ chè tăng cao. Ông Nguyễn Tá, Chi cục phó chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh cho hay: Trên cùng một diện tích nhưng 2 lứa chè đông cho giá trị kinh tế bằng 3 – 4 lứa chè chính vụ.

Sản xuất trà vụ đônh
Sản xuất trà vụ đông

Vụ đông, búp chè chậm phát triển hơn so với chính vụ. Bình thường bà con làm chè tự phát phải mất tới 50 ngày mới được một lứa hái và chỉ hái thêm 2 -3 lứa chè vụ đông. Nhưng năm 2016 thời tiết ấm áp, nhiều hộ dân tích cực đầu tư thâm canh nên ở một số địa phương có kinh nghiệm sản xuất chè vụ đông, khoảng cách thu hoạch giữa hai lứa chỉ mất 40- 45 ngày. Năng suất chè cũng tăng lên, trung bình đạt 0,4 – 0,5 tấn /ha, tăng khoảng 0,1 đến 0,2 tấn / ha so với những năm trước.

Tuy làm chè vụ đông  ( trái vụ ) đòi hỏi phải đầu tư hệ thống tưới nước và mất nhiều công chăm sóc nhưng có ưu điểm là mùa đông chè ít sâu bệnh, không cần phun nhiều thuốc bảo vệ thực vật nên chất lượng chè thường ngon hơn, bán được giá hơn. Theo nhiều hộ dân ở các vùng chè trong tỉnh, để tăng hiệu quả sản xuất chè vụ đông, ngay từ đầu tháng 8, sau khi thu hái lứa chè chính vụ cuối vụ, bà con tiến hành cúp tán. Sau đó thu dọn thân và cành to ra bờ, vùi lấp cành tăm hương và lá chè theo hàng chè để tăng chất mùn ( ép xanh). Đồng thời kết hợp việc ép  xanh với bón phân hữu cơ, phân lân cho những nương chè đến kỳ chăm bón và phun một lượt thuốc lên thân, cành tán chè để diệt sâu bệnh; xới sạch cỏ trong gốc chè, cày và cuốc lật giữa hai hàng chè làm cho đất tơi xốp, hạn chế bốc hơi nước. Nhằm giúp chè phát triển tốt, nhanh cho búp, các hộ sản xuất chè đông thường xuyên tưới nước cho chè hoặc ít nhất tưới một tuần tưới một lần. Ngoài ra, bà con còn ủ rơm rạ bón bổ sung, kịp thời cung cấp chất dinh dưỡng và giữ ấm cho cây chè vụ đông: chăm sóc, bón phân, đốn tỉa và thực hiện các biện pháp quản lý phòng, trừ sâu bệnh hại theo đúng quy trình kỹ thuật thâm canh chè…

Đẩy mạnh sản xuất chè vụ đông đang là mục tiêu tỉnh Thái Nguyên hướng tới. Đây cũng là một trong những định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh từ nay đến năm 2020. Do đó,để tăng diện tích và hiệu quả sản xuất chè vụ đông, năm 2017, Thái Nguyên có kế hoạch hỗ trợ người làm chè mua máy móc, thiết bị tưới chè. Dự kiến tỉnh sẽ hỗ trợ cho khoảng 100 mô hình với mức hỗ trợ dưới 15 triệu đồng/mô hình. Tuy nhiên, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh nên lựa chọn và thực hiện các mô hình ở những địa phương có kinh nghiệm sản xuất chè vụ đông để giúp hoạt động hỗ trợ đạt kết quả tốt hơn. 

(Theo Tùng Lâm – báo Thái Nguyên)

Sản xuất chè bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nào?

Thẻ:, ,

Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

  • Đất đai và địa hình: Trong sản xuất chè, đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và thành phẩm. Yếu tố đất đai quyết định chè được phân bố ở các vùng địa hình khác nhau.sản xuất chè chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nào2

Để cây sinh trưởng tốt, có năng suất thì phải đạt yêu cầu: Đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chau và thoát nước. Độ PH từ 4,5 – 6, đất trồng có độ sâu ít nhất là 60cm, mực nước ngầm dưới 1 m. Địa hình ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng chè. Chè trồng trên vùng đất cao có hương vị thơm và mùi vị tốt hơn vùng đất thấp, nhưng lại sinh trưởng kém hơn vùng đất thấp.

  • Thời tiết khí hậu: Các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng trong ngày và sự thay đổi mùa đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng chè.sản xuất chè chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nào

Cây chè sinh trưởng ở nhiệt độ >10 độ C. Nhiệt độ trung bình hàng năm để cấy chè sinh trưởng và phát triển bình thường là 12,5 độ, cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 15 – 23 độ. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân cây chè sinh trưởng trở lại.

Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm từ 3000 – 4000 độ. Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến việc tích lũy tannin trong chè, nếu nhiệt độ quá 35 độ liên tục kéo dài sẽ dẫn đến cháy lá chè. Nhiệt độ thấp kết hợp với khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù.

Cây chè quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ, ánh sáng trực xạ trong điều kiện không khí cao không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè. Thời kỳ cây non, giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn cây trưởng thành và giống chè lá nhỏ.

Cây chè là cây thu hoạch lấy búp non và lá non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước. Yêu cầu lượng mưa trung bình năm khoảng 1500 mm và phân bố trong các tháng. Lượng mưa và phân bố lượng mưa ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và thu hoạch của cây chè. Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời sinh trưởng khoảng 85%. Nước ta các vùng trồng chè coa điều kiện thích hợp nhất cho chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5, 6, 6, 8, 9, 10 trong năm.

Nhóm nhân tố kỹ thuật.

  • Ảnh hưởng của giống chè: chè là loại cây có chu kỳ sản xuất dài, giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất. Nên việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm.sản xuất chè chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nào4

Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường. Mỗi sản phẩm chè đòi hỏi một nguyên liệu nhất định, mỗi vùng mỗi điều kiện sinh thái thích hợp lại thích hợp cho một hoặc một số giống chè. Vì vậy để đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh của mỗi vùng sinh thái cần đòi hỏi giống thích hợp điều kiện mỗi vùng.

  • Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong chè có hàm lượng nước lớn, nhưng chè rất sợ úng và không chịu úng. Chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn chết. Việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ ẩm cho đất để cấy inh trưởng và phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao.
  • Đốn chè : Là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè. Vì thế kỹ thuật đốn chè được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu

Đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè đã ngừng sinh trưởng và đề ra các mức đốn hợp lý cho từng loại hình đốn:

sản xuất chè chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nào5

Đốn phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết cũ 3 – 5 cm, khi cây chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết cũ 1-2 cm.

Đốn lửng: Đốn cách mặt đất 60-65 cm.

Đốn dàn: Đốn cách mặt đất 40- 50cm.

Đốn trẻ lại: Đốn cách mặt đất 10-15 cm.

Đốn chè có tác dụng loại trừ các cành già yếu, giúp cho cây chè luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế ra hoa, kết quả, kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ lá, bộ khung tán thích hợp, vùa tầm hái.

  • Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc, điều kiện cơ giới hóa. Tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc dày sẽ làm cho năng suất chất lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại, vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý.
  • Bón phân: Đây là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè. Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè thường được trồng trên sườn đồi, núi cao, dốc, nghèo dinh dưỡng… nên lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè ngày càng bị thiếu hụt.

Chính vì thế, để cây chè sinh trưởng và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho cây chè là biện pháp không thể thiếu được. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 – 60%.

Đạm và lân có ảnh hưởng lớn hơn đối với cây chè nhỏ tuổi, lớn hơn vai trò tổ hợp của đạm và kali. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất chè ở giai đoạn khác nhau, cho thấy: Phân lân có vai trò với sinh trưởng cả về đường kính cây, chiều cao cây, độ rộng tán của cây con.

Bón phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón phân đạm và kali hoặc chỉ mỗi phân đạm. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cây một lượng khác nhau với nguyên tắc: Từ không đến ó, từ ít đến nhiều, bón đúng lúc, đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời.

Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất của cây chè.

  • Hái chè: Thời gian, thời điểm và phương thức hái có ảnh hưởng đến chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm hái một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho chế biến chè, vì chứa hàm lượng Polyphenol và caphein cao, nếu hái quá già thì chất lượng chè giảm và làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây chè.
  • Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Chè sau khi thu hái có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10h do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất nhà máy thấp. Khi thu hái không để dập nát búp chè.
  • Công nghệ chế biến: Tùy vào mục đích của phương án sản phẩm mà có các quy trình công nghệ phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến có hai giai đoạn là sơ chế và tinh chế thành phẩm.sản xuất chè chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nào6

Chế biến chè xanh: là phương pháp chế biến được người dân áp dụng rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình như sau: Từ búp chè xanh ( 1 tôm 2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt độ 100 độ với thời gian nhất định rồi đưa ra máy vò để cho búp chè săn lại, đồng thời giảm tỷ lệ nước trong chè. Sau khi vò xong lại đưa chè vào quay xử lý ở nhiệt độ cho đến khi chè khô hẳn ( Nhiệt độ phải giảm dần). Sau khi chè khô ta có thể đóng bao bán ngay hoặc sát lấy hương rồi mới bán, khâu này tùy vào khách hàng. Đặc điểm của chè xanh là có màu vàng óng ánh, vị chát đậm, hương vị tự nhiên, vật chất khô ít bị biến đổi.

Chế biến chè vàng: Là sản phẩm của một số dân tộc ít người trên các vùng núi cao, được chế biến theo phương pháp thủ công.

Chế biến chè đen: gồm hái búp chè, làm héo, vò, lên men, sấy khô, vò nhẹ, phơi khô. Chè đen thường được sơ chế bằng máy móc hiện đại với năng suất chất lượng cao, đòi hỏi quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các phản ứng hóa học trong búp chè.

(Theo Hà Nghiệp Thuận- ĐH Nông Lâm Thái Nguyên)

Hướng dẫn bạn phân biệt bột trà xanh thật và bột trà xanh giả bằng mắt thường

Thẻ:, ,

Không ai có thể phủ nhận bột trà xanh cực tốt cho sức khỏe và làn da. Tuy nhiên nếu không cẩn thận bạn có thể mua phải bột trà xanh giả.

Hiện tại có rất nhiều loại bột trà xanh giả, chứa chất tạo màu độc hại trên thị trường.

Ai cũng biết, bột trà xanh là nguyên liệu của nhiều món ăn thông dụng như: Trà sữa, kem, bánh Flan, Pudding, bánh cake, bông lan, bánh trung thu, chè Khúc Bạch,…Đây cũng là thành phần quan trọng của một số loại mặt nạ làm đẹp. Tuy nhiên, nhiều người tiêu dùng không biết rằng sức khỏe có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi mua phải bột trà xanh giả, chất lượng kém.

Hiện nay ở Việt Nam, bột trà xanh được bày bán tràn lan tại các cửa hàng , khu chợ lớn. Đặc biệt, chúng được bán với nhiều mức giá khác nhau và mập mờ về nguồn gốc, xuất xứ.

Một số loại trà xanh được bán trên thị trường có màu xanh đậm, mùi hắc, độ mịn kém thậm chí là vón cục.

Giật mình hơn, nhiều loại bột trà xanh được các chủ hàng quảng cáo và cam kết là bột trà xanh thiên nhiên nhưng thực chất lại có thể chứa hàng loạt các hóa chất tạo màu, tạo mùi, bảo quản. Khi các hóa chất này trong bột trà xanh được sử dụng để làm đẹp sẽ ngấm vào da và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Chưa kể, trả lời báo chí, TS Phan Thế Đồng, Trưởng khoa Công nghệ thực phẩm trường ĐH Nông Lâm TP. HCM từng cho biết: Để kích thích tăng trưởng và tránh sâu bện cho cây chè, người trồng chè xanh đã phun nhiều loại thuốc kích thích, phân bón lá lên lá chè.

Và để sản phẩm đến tay người tiêu dùng an toàn, các nhà máy sản xuất chè phải sử dụng công nghệ  xử lý dư lượng hóa chất. Tuy nhiên có những nơi không áp dụng tiêu chuẩn không đảm bảo thì dư lượng hóa chất trên lá trà vẫn rất cao. Lá chè dễ bị đổi màu, biến mùi khi chế biến. Để giữ màu chè xanh tươi nhà sản xuất phải dùng hương liệu , phẩm màu hoặc sử dụng một số kim loại như đồng, chì trong quá trình chế biến.

Cả hai cách trên đều mang đến những nguy cơ nhất định cho sức khỏe. Đối với những loại bột trà xanh không rõ nguồn gốc, không thể loại trừ khả năng đó là hóa chất công nghiệp.

“Mức độ độc hại của hóa chất tạo màu tạo mùi công nghiệp là rất lớn. Nó tổn hại đến tất cả cơ quan thần kinh, nội tạng và bề mặt da khi tiếp xúc trực tiếp”, TS Huỳnh Khánh Duy, Khoa Kỹ Thuật Hóa học, ĐH Bách Khoa TP. HCM cảnh báo.

6 Điểm giúp bạn nhận biết bột trà xanh giả – thật

Nếu có kinh nghiệm đi mua sắm, bà nội trợ hoàn toàn có thể phân biệt được bột trà xanh nguyên chất và bột trà xanh rởm chỉ bằng thông qua mùi vị, màu sắc, độ kết dính của bột trà xanh nguyên chất, màu sắc sau khi pha trộn với sữa tươi.

Dựa vào mùi vị

Theo kinh nghiệm của nhiều người, bột trà xanh nguyên chất sẽ có vị đắng và mang theo vị ngọt bùi theo sau. Vị ngọt có được là do nồng độ amino acid cao, đặc biệt là L – Theanin và các loại sợi.

Dựa vào mùi vị

Với các loại bột trà xanh giả thường có vị đắng chát hoặc là ngọt quá và chát

Khi hòa bột

Khi hòa bột trà xanh với nước, dù đã nghiền nhỏ đến mấy nhưng vì nó là chất xơ nên bột trà xanh thật không thể tan hoàn toàn và tạo độ dính như các loại bột đậu đỏ hay yến mạch mà bạn hay dùng được.

Hơn nữa, bột trà xanh nguyên chất khi trộn xong sẽ cho màu xanh thẫm chứ không phải xanh lá mạ đẹp mắt như bạn nghĩ.

Khi uống

Khi uống bột trà xanh sẽ thấy mùi thơm mùi trà xanh và sẽ cảm thấy tinh thần phấn chấn, dồi dào sức khỏe.

Trong khi đó bột trà xanh giả khi uống sẽ gây khó chịu và tạo một cảm giác cồn cào. Thậm chí, bạn có thể sẽ thấy buồn nôn và nhức đầu.

Khi uống nếu bạn để bột trà xanh thật chừng 20-30cm là dường như  không còn thấy mùi gì cả, trừ khi bạn lắc lắc bột lên.

Trong khi bột trà xanh giả dù bạn có để xa bạn vẫn cảm thấy hương thơm do có hương liệu trong đó.

Hương thơm

Bột trà xanh sẽ có một mùi thơm dịu nhẹ, mang lại cho bạn một cảm giác tươi mới nhưng bột trà xanh giả sẽ không làm được như vậy.

Bột trà xanh giả thường mang hương thơm của hoa Lài, hương Vani do được tẩm hương liệu từ trước.

Màu sắc

Bột trà xanh thật mang màu xanh ngọc bích do chứa nhiều chất diệp lục. Nếu quan sát bạn sẽ thấy bột trà xanh giả sẽ hơi có màu vàng úa.

Độ mịn

Do được tước trên các gân lá và xay bằng cối đá granit nên bột trà xanh thật sẽ rất mịn màng không cảm nhận được bằng tay. Ngược lại bột giả sẽ thấy hơi lấn cấn khi sờ vào.

phân biệt bằng độ mịn

Trên đây là 6 điểm đơn giản giúp bạn tránh mua phải bột trà xanh giả – bột trà xanh rởm. Hi vọng bài viết sẽ hữu ích với các bạn, nhớ cùng chia sẻ với mọi người bạn nhé!

*Lưu ý: Công dụng của sản phẩm này có thể thay đổi tủy theo cơ địa và thể trạng của từng người.

Bạn gái nên biết: 10 cách đơn giản làm mặt nạ trà xanh đơn giản

Thẻ:, ,

Nếu bạn gái nào mong muốn có vẻ đẹp tự nhiên, an toàn nhất thì không thể bỏ qua sản phẩm bột trà xanh. Bột trà xanh được chế biến từ nguyên liệu duy nhất là lá trà xanh, các chất chứa trong bột trà xanh rất có lợi cho làn da của chúng ta. Các bạn có thể tìm hiểu thêm qua bài: Tác dụng của bột trà xanh

Tuy nhiên việc sử dụng bột trà xanh như một loại mỹ phẩm thì không phải ai cũng biết. Với bài viết này, Hoàng Đào trà sẽ giới thiệu đến bạn 10 cách đơn giản làm mặt nạ trà xanh đắp mặt tại nhà:

  1. Mặt nạ trà xanh đơn giản từ bột trà xanh và nước tinh khiết:

Mặt nạ này có tác dụng kháng khuẩn, ngừa mụn, trị thâm, giúp cho làn da trắng sáng hơn.

Mặt nạ trà xanh đơn giản từ bột trà xanh và nước tinh khiết

Cách làm: Cho bột trà xanh vào chiếc bát sạch. Nhỏ từng giọt nước vào bát đựng trà xanh và khuấy đều đến khi được hỗn hợp hơi quánh thì dừng lại.

Rửa mặt sạch với nước ấm và đắp hỗn hợp lên mặt

20-30 phút sau rửa sạch lại mặt

  1. Mặt nạ trà xanh với dầu dừa

Bạn trộn 3 muỗng canh bột trà xanh, với một thìa cà phê dầu dừa hoặc dầu oliu, một thìa cà phê nước cốt chanh. Trộn thật đều để có được hỗn hợp sền sệt. Sau đó thoa đều hỗn hợp lên da, massage nhẹ nhàng rồi để yên mặt nạ trên da trong vòng 15 phút cho tới khi thấy mặt nạ hơi se mặt thì rửa lại với nước mát.

Mặt nạ trà xanh với dầu dừa

Dầu dừa giúp cung cấp độ ẩm cho da, làm da trắng sáng mềm mượt trong khi bột trà xanh có tác dụng diệt khuẩn gây mụn, đem lại làn da láng mịn, mềm mại.

  1. Mặt nạ trà xanh dấm táo

Với loại mặt nạ này sẽ giúp làn da bạn giảm nhờn, trị mụn, cho làn da sáng khỏe, căng mịn.

Mặt nạ trà xanh dấm táo

Cách làm cũng rất đơn giản: Bạn cho bột trà xanh vào bát rồi thêm giấm táo để hỗn hợp được quánh đặc. Đắp mặt nạ trà xanh dấm táo trong vòng 20-30 phút rồi rửa lại bằng nước ấm.

  1. Mặt nạ trà xanh, cà chua, sữa tươi.

Giúp da bạn có làn da căng bóng, mềm mịn, chống lão hóa cho làn da

Mặt nạ trà xanh, cà chua, sữa tươi.

Cách làm: Bạn cho nửa quả cà chua nhỏ gọt vỏ, bỏ hạt, dầm hoặc xay nhuyễn. Sau đó cho cà chua, bột trà xanh vào bát trộn đều rồi từ từ cho sữa tươi vào được hỗn hợp đặc quánh, rồi đắp lên mặt trong vòng 20-30 phút rồi rửa lại sạch bằng nước lạnh.

  1. Mặt nạ trà xanh và sữa chua không đường.

Mặt nạ trà xanh và sữa chua không đường dành cho da khô. Đắp mặt nạ này giúp làm sáng da, hạn chế thâm nám, trẻ hóa làn da.

Mặt nạ trà xanh và sữa chua không đường

Cách làm: Cho bột trà xanh và sữa chua vào một bát sạch theo tỉ lệ 1:2 và trộn đều. Rửa sạch mặt với nước ấm và đắp hỗn hợp lên mặt. Sau đó khoảng 20-30 phút bạn rửa lại mặt bằng nước sạch.

  1. Mặt nạ trà xanh và sữa tươi không đường.

Cách làm này có tác dụng dưỡng ẩm, mờ nếp nhăn, giúp da mềm mịn hơn, sáng hơn đồng thời kháng khuẩn, ngừa mụn.

Mặt nạ trà xanh và sữa tươi không đường

Cách dùng tương tự như với nước tinh khiết.

Sauk hi rửa sạch bạn sẽ thấy làn da được cải thiện đáng kể nhờ tinh chất trong trà xanh giúp làm trắng da và sữa tươi giúp da bạn mềm mịn hơn

  1. Mặt nạ trà xanh matcha nha đam trị rám nắng.

Lá lô hội rửa sạch, gọt sạch lớp vỏ cứng màu xanh bên ngoài. Dùng một chiếc thìa nhỏ, cạo lấy phần gel trong của lá lô hội.

Mặt nạ trà xanh matcha nha đam trị rám nắng

Nghiền nhuyễn lớp gel này  rồi trộn cùng với ½ thìa bột trà xanh, 2 viên nang vitamin E hoặc 1 thìa cà phê mật ong nguyên chất. Sau đó thoa hỗn hợp này lên da, massage và để khô trong vòng 15-20 phút rồi rửa sạch.

  1. Mặt nạ trà xanh với nước cốt chanh và mật ong

Bạn chỉ cần trộn một thìa cà phê bột trà xanh với một thìa cà phê mật ong nguyên chất, có thể cho thêm 2- 3 giọt nước cốt chanh để tăng hiệu quả trắng da.

Mặt nạ trà xanh với nước cốt chanh và mật ong

Sau khi rửa sạch mặt, thoa đều hỗn hợp lên da, massage nhẹ nhàng trong vòng 15 phút rồi rửa sạch mặt với nước mát. Thực hiện đều đặn 2-3 lần trong 1 tuần để có được làn da trắng mịn như mong muốn.

  1. Mặt nạ trà xanh và đậu xanh.

Đậu xanh và trà xanh có khả năng làm sạch lỗ chân lông rất tốt. Lòng trắng trứng có tác dụng làm bong lớp mụn đầu đen.

Nguyên liệu: 10 g bột trà xanh, 10 g bột đậu xanh, 1 lòng trắng trứng gà

Mặt nạ trà xanh và đậu xanh

Cách làm: bạn trộn đều bột đậu xanh, bột trà xanh với lòng trắng trứng gà thành một hỗn hợp đặc sánh. Thoa hỗn hợp lên vùng da bị mụn đầu đen, để trong khoảng 20 phút rồi rửa sạch với nước ấm.

  1. Mặt nạ trà xanh matcha mật ong.

Mặt nạ trà xanh matcha kết hợp với mật ong sẽ giúp bạn làm sạch da, loại bỏ những vết bụi bẩn và vi khuẩn làm nguyên nhân gây ra mụn. Giúp trị mụn và làm mờ vết thâm hiệu quả, đồng thời bổ sung các vitamin cần thiết cho da.

Cách thực hiện: Cho 1 muỗng trà xanh matcha với 1 muỗng mật ong nguyên chất  vào một chén nhỏ. Bạn có thể cho thêm 1 ít nước cốt canh để tăng khả năng làm sạch da. Bạn dùng cọ trang điểm thoa một lớp đều mặt nạ trà xanh matcha mật ong lên mặt và nằm thư giãn từ 15-30 phút rồi rửa mặt thật sạch với nước ấm.

Mặt nạ trà xanh matcha mật ong

Để đạt được kết quả dưỡng da tốt nhất, bạn chỉ nên đắp mặt nạ trà xanh từ 2-3 lần mỗi tuần. Bạn nên kết hợp với việc ngủ đủ giấc và uống bột trà xanh hàng ngày. Ngoài ra bện nên chọn bột trà xanh nguyên chất ở những nơi uy tín, đảm bảo chất lượng, tránh mua phải các loại bột trà xanh có phẩm màu, phụ gia độc hại gây ra các tác dụng không mong muốn.

*Lưu ý: Công dụng của sản phẩm này có thể thay đổi tủy theo cơ địa và thể trạng của từng người.

Rong nho Khánh Hòa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đến Nhật

Thẻ:, ,

Nhờ nuôi trồng trong môi trường sạch, an toàn, rong nho Khánh Hòa cho năng suất cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

Rong nho có màu xanh tươi với những quả nhỏ tròn căng bóng mịn kết lại thành chùm dài, vị mặn kết hợp vị chua thanh nhẹ mà giòn mát. Viện hóa hữu cơ và viện sinh biển Viễn Đông năm 2006 đã phân tích cho thấy rong nho có chứa nhiều dưỡng chất, vitamin A và C, có khả năng giúp phòng chống xương khớp, cao huyết áp, tim mạch, tiểu đường…Người tiêu dùng cũng rất ưa chuộng sản phẩm này vì hương vị cũng như giá trị dinh dưỡng của nó.

Người tiêu dùng rất thích hương vị cũng như giá trị dinh dưỡng của rong nho Khánh hòa

Loại rong này thích hợp với môi trường sống ở vùng biển ấm và có độ mặn cao như vùng biển Thái Bình Dương, đặc biệt phân bố nhiều ở Philippines. Tại Nhật Bản, rong nho được nuôi trồng tại vùng biển  Okinawa theo phương pháp trồng tiếp đáy, treo lơ lửng trong nước biển hoặc các bể, hồ xi măng chứa nnuwowcs biển. Tuy nhiên, các phương pháp này cho năng suất rong nho thấp, chỉ khoảng 10 tấn 1 ha mỗi năm và chiều dài cọng chỉ đạt 6-7cm.

Tại Việt Nam., năm 2004 Anh Lê Bền ở Xã Ninh Hải, huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa – Phó giám đốc Công ty TNHH Trí Tín đã tiến hành nuôi trồng rong thử nghiệm trong các đìa tôm sú bỏ hoang. Qua thời gian nghiên cứu, rút kinh nghiệm, năm 2007, anh Bền đã tìm ra các nuôi mới cải tiến từ phương pháp của người Nhật. Cách làm này không chỉ cho năng suất cao hơn mà chất lượng tốt nên sản phẩm đã được xuất khẩu trở lại Nhật Bản.

Phương pháp nuôi rong nho tại Khánh Hòa được cho là ưu việt hơn tại Nhật

Cụ thể, Anh Bền nuôi rong trong những khay nhựa, đáy có lót nilon để chứa mùn cát và chất dinh dưỡng, rồi chúng được đặt trên kệ hoặc sạp đóng bằng tre, gỗ, gạch đá nằm chìm dưới đáy ao nuôi.

Nước trồng rong nho phải được xử lý và lọc sạch để loại bỏ các kim loại nặng, vi sinh vật có hại, vi khuẩn gây bệnh…Bên trên ao nuôi sử dụng lưới tạo mái che nhằm chủ động điều tiết ánh sáng và nhiệt độ của nước biển.

Phương pháp này giúp rong nho có thể hấp thu dinh dưỡng một cách tốt nhất, ít lẫn có tạp chất và năng suất thu hoạch đến 20 tấn một ha một năm và chiều dài có thể đạt 9-10 cm. Đồng thời, thời gian thu hoạch rong ngắn chỉ trong vòng 15-20 ngày một vụ.

Theo anh bền, để rong nho Khánh Hòa đủ tiêu chuẩn đi Nhật, không chỉ khâu nuôi trồng, quy trình chế biến rong nho cũng phải đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm HACCP với 4 công đoạn công phu. Ngay sau khi thu hoạch, rong được làm sạch cơ học trong các bể nước  đã qua lọc và khử trùng bằng Ozone. Công đoạn này giúp rong sạch tạp chất và loại bỏ được hết các sinh vật lạ bám dính trên cọng rong, đồng thời, rong được phân loại luôn theo độ dài.

Tiếp theo, rong nho sẽ được nuôi lại trong các bể nhựa ở điều kiện lý tưởng. Trong giai đoạn này, rong vẫn sống, hấp thụ thêm các dưỡng chất, các nguyên tố đa vi lượng, vi lượng đồng thời giải phóng các kim loại nặng độc hại nếu có. Theo anh Bền, đây cũng là giai đoạn để các vết cắt tự “làm lành”, nhờ đó quá trình  bảo quản sản phẩm đảm bảo hơn. Sau đó, rong được đưa vào làm ráo nước bằng máy ly tâm và đóng gói sản phẩm cung cấp ra thị trường.

Phương pháp trồng  cải tiến này được áp dụng rộng rãi và diện tích trồng rong nho Khánh Hòa tiếp tục mở rộng hơn 300 ha tại các huyện Cam Lâm, Cam Ranh và Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang Nhật Bản.

(Theo Hà An)

Thực trạng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất chè

Thẻ:, ,

Vì sao người dân sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật?

Trong những năm gần đây nền sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những bước chuyển biên tích cực tăng cả về mặt năng suất và chất lượng cây trồng. Cơ cấu cây trồng đã ngày càng đa dạng và phong phú. Trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của nước ta hiện nay chè là loại cây trồng đem lại nhiều giá trị kinh tế cũng như giá trị tiêu dùng. Đã từ lâu sản phẩm chè trở thành loại thức uống bổ dưỡng không thể thiếu của người dân đồng thời chè cũng là một loại dược liệu có thể chữa được nhiều bệnh. Trong thời gian gần đây sản phẩm chè không những được tiêu thụ mạnh mẽ trong nước mà còn là một mặt hàng quan trọng xuất khẩu ra nước ngoài đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế nước nhà. Kết thúc năm 2015 sản lượng chè búp tươi đạt 1,2 triệu tấn, sản lượng chè búp khô đạt 260 nghìn tấn, trong đó xuất khẩu 200 nghìn tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD, giá xuất khẩu bằng với giá bình quân của thế giới ( 2.200 USD/tấn)

Thống kê lượng, đơn giá, giá trị xuất khẩu chè

Việt Nam có điều kiện thiên nhiên và đất đai thuận lợi để phát triển ngành chè. Chè ở Việt Nam được trồng chủ yếu trên đất đồi núi ở nhiều tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, miền Trung là Hà Tĩnh và miền Nam là Lâm Đồng và Gia Lai dưới hai hình thức chủ yếu là nông trường và hộ gia đình. Hiện nay, diện tích đất trồng chè của Việt Nam có khoảng 136.000 ha. Tuy nhiên ở nước ta việc phát triển cây chè gặp rất nhiều khó khăn, trong đó sâu bệnh gây hại là nguyên nhân quan trọng, làm tổn thất sản lượng từ 15-30%, chất lượng cũng giảm sút. Trong quá trình canh tác đã xuất hiện nhiều loại sâu bệnh hại chè như: Rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, nhện đỏ nâu… Vì vậy việc phòng trừ các loại sâu bệnh là nhân tố quan trọng để quy định sự phát triển, duy trì và tăng năng suất cây trồng. Cũng như một số vùng trồng chè khác, Thái Nguyên có vị trí nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và cây chè được chuyên canh cao nên rất đa dạng về lượng  cũng như loại sâu bện hại. Trong công tác bảo vệ thực vật hiện nay ở cây chè cũng như các loại cây trồng khác, chúng ta tập chung chủ yếu phòng chống sâu bệnh hại bằng các biện pháp đơn lẻ và lấy biện pháp hóa học làm chủ đạo. Biện pháp này có lợi là thuận tiện, dập tắt các đợt dịch nhanh chóng và làm tăng năng suất cây trồng rõ rệt. Tuy nhiên nó cũng mang lại nhiều tiêu cực là tiêu diệt thiên địch của sâu hại, dễ phát sinh dịch mới, phá vỡ cân bằng sinh thái trong nông nghiệp. Do nhận thức không đầy đủ, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của bà con nông dân còn chưa hiệu quả và không tuân thủ theo đúng nguyên tắc quy định, cũng đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường hệ sinh thái. Không chỉ vậy nó còn làm ảnh hưởng  đến chất lượng chè do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật còn tồn tại trong sản phẩm chè vượt quá tiêu chuẩn. Do đó trực tiếp gây ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ của chè.

Phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là một trong những chất hóa học do con người tạo ra ngài những mặt có lợi  nó cũng gây ra các ảnh hưởng và khó khăn do quá lạm dụng gây ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường. Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong việc bón phân hóa học  và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân đã gây nên tác động lớn đến môi trường. Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện theo phương châm “ phòng hơn chống” đã dùng thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học theo kiểu phòng ngừa định kỳ vừa tốn kém, vừa tiêu diệt nhiều loại có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại phát triển thành dịch và lượng thuốc BVTV được sử dụng càng tăng.

Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân bón ở Thái Nguyên

Ngành chè Việt Nam trong đó có cộng đồng doanh nghiệp chè Thái Nguyên thời gian qua đau đầu với sản phẩm trà xuất khẩu bị trả lại do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, gây mất uy tín đối với các sản phẩm trà, làm giảm niềm tin của thị trường Quốc tế. Nhiều lô hàng chè bị trả lại do các doanh nghiệp không có vùng nguyên liệu ổn định, mua sản phẩm trà xanh trôi nổi từ tiểu thương và người dân. Vấn đề đặt ra là người làm chè, trong đó có số ít người làm chè Thái Nguyên hãy còn dùng thuốc và phân bón hóa học lung tung, không đúng chủng loại, liều lượng, thời gian cách ly nên việc tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên chè là khó tránh khỏi.

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải đảm bảo thời gian cách ly đúng yêu cầu

Cục trường cục bảo vệ thực vật cũng khẳng định rằng, không khuyến khích kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Do đó, càng hạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè có độ độc cao càng tốt, trước chính là để bảo vệ môi trường và sức khỏe giống nòi cho dân tộc, sau là tạo tiền đề cho nông sản Việt Nam có đủ điều kiện ATVSTP xuất khẩu sang những thị trường khó tính  nhưng giá bán cao… Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thế giới qua TPP, nếu như không hạn chế thuốc bảo vệ thực vật, làm sao xuất khẩu sang các thị trường này được?

Để hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè, cơ quan quản lý cần siết chặt và rút gọn lại danh mục các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè hiện nay. Cần có các nghiên cứu khoa học để đưa ra danh mục tối ưu nhất, chỉ khoảng 15-20 hoạt chất. Lưu ý loại bỏ những hoạt chất  có ảnh hưởng cực xấu đến sức khỏe con người nếu bị phơi nhiễm. Đồng thời, loại bỏ hẳn ra khỏi danh mục những hoạt chất mà những nước nhập khẩu chè Thái Nguyên, chè Việt Nam đang sử dụng làm hàng rào kỹ thuật. Có như vậy, giá chè Thái Nguyên xuất khẩu mới lên cao, người dân mới có thu nhập, lại bán được chè ổn định.

Bên cạnh đó, thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học được coi là một trong những vũ khí “giết người hàng loạt”, do đó cần cấm người dân tự ý sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học chứ không chỉ hạn chế sử dụng trên cây chè. Hạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học theo ranh giới hộ gia đình  như tại Việt Nam nên thành lập những viện cây trồng, những HTX và tổ hợp tác chuyên dùng thuốc BVTV và phân bón hóa học theo vùng sinh thái. Xét tới đạo đức kinh doanh trong thế giới phẳng như hiện nay, chúng ta không thể sản xuất ra những thứ độc hại rồi bán cho người dân nước khác dùng. Làm chè phải có tâm, thế nên cần tuyên truyền để người dân hạn chế sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học trên cây chè Thái Nguyên, đặc biệt là thuốc cấm, không rõ nguồn gốc.

*Lưu ý: Công dụng của sản phẩm này có thể thay đổi tủy theo cơ địa và thể trạng của từng người.