Các giống chè mới được trồng ở Thái Nguyên hiện nay

Hiện nay tại Thái Nguyên xuất hiện nhiều giống chè mới được bà con trồng chè áp dụng như: giống chè Kim Tuyên, Bát Tiên, chè lai LPD1… được trồng phổ biến tại các vùng chè của Thái Nguyên. Mỗi giống chè có những đặc điểm khác nhau, mang lại giá trị kinh tế cao hơn giống chè trung du xưa.

Thái Nguyên là tỉnh có diện tích trồng chè lớn, với các dòng sản phẩm trà chất lượng nổi tiếng xa gần. Để tạo nên thương hiệu đó cũng một phần ở khâu chọn giống. Người dân trồng chè ở đây cẩn thận lựa chọn cho mình những giống chè phù hợp với vùng đất mình canh tác. chính vì vậy mà những nương chè ở Thái Nguyên luôn xanh tốt. Hôm nay chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu thêm về những giống chè mới đang được trồng chủ yếu ở Thái Nguyên để hiểu thêm tại sao chè thái nguyên là ” đệ nhất danh trà”.

1. Giống chè TBKT Kim Tuyên

giong che moi

Nguồn gốc

Giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975. Nhập nội vào Việt Nam từ 1994. Trồng ở các tỉnh Lâm Đồng, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn.

Đặc điểm

Dạng thân bụi, thế cây hơi đứng. Thế lá ngang, kích thước lá nhỏ (dài lá 6,8cm, rộng lá 3,43cm) răng cưa mờ, có 8 đôi gân lá. Màu sắc xanh đậm, trơn bóng, mép lượn sóng, lá non phớt tím. Búp non có tuyết, trọng lượng búp 1 tôm 3 lá: 0,52g. Bật mầm sớm, sức sinh trưởng mạnh, mật độ búp trung bình.

Năng suất

giống chè mới cho sản lượng khá và ổn định tại Việt Nam. Năng suất trung bình 6 – 8 tấn/ha (Phú Thọ, Lạng Sơn). Năng suất thâm canh đạt 10 – 12 tấn/ha (Lâm Đồng). Xu thế năng suất giống Kim Tuyên ở các tỉnh phía Bắc có năng suất thấp hơn các tỉnh phía Nam và vùng trung du thấp có năng suất thấp hơn vùng núi.
Trong điều kiện thâm canh tăng lượng phân bón hữu cơ và có tưới tiêu cho năng suất khá cao. Khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn các giống Ôlong Thanh Tâm và giống Vân Xương. Trong điều kiện thâm canh và ở vùng cao nguyên giống ít bị sâu bệnh hơn so điều kiện không thâm canh hoặc ở vùng đồi núi thấp.

Chất lượng

Có nội chất tốt, hàm lượng tanin 28,50%, đường khử là 0,59%, chất hòa tan là 39,52%, axít amin là 1,58% và cafein tổng số là 132mg/gck… Chế biến chè xanh và chè Ôlong có chất lượng cao, nhưng thích hợp cho chè Ôlong hơn chè xanh.

Khuyến cáo

Giống Kim Tuyên là giống chè mới cho năng suất khá cao, thích hợp quy trình thâm canh.Cần sửa tạo tán để búp ra tập trung và non lâu từ 40 – 45 ngày tuổi.

2. Giống chè Phúc vân tiên

giong che moi

Nguồn gốc

Giống vô tính của Trung Quốc, chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Phúc Đỉnh Đại Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to từ 1957-1971 bởi Viện Nghiên cứu chè tỉnh Phúc Kiến. Nhập nội vào Việt Nam năm 2000 và trồng ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh và Lâm Đồng.

Đặc điểm

Dạng thân gỗ nhỡ, thế cây hơi đứng, tán nhỏ. Cây cao ở điều kiện sinh trưởng tự nhiên có thể vươn cao tới 4-5 m. Vị trí phân cành trên thân chính cao hơn. Thế là nằm ngang hoặc rủ xuống, lá thuôn dài hoặc gần như thuôn dài. Dài 11,9-13,2 cm, rộng 4,3-4,9 cm. Mặt lá hơi lồi lõm. Đầu lá nhọn. Lá màu xanh sáng không bóng, cấu tạo lá dày, có 9-11 đôi gân lá. Mép lá gợn sóng, rưng cưa mép lá nông. Khả năng bật búp mạnh. Búp mập màu xanh vàng sáng, có phủ lông tuyết. Trọng lượng 1 tôm 3 lá là 0,69g. Thời kỳ ra hoa rộ xuất hiện vào đầu tháng 11. Có rất nhiều hoa tỷ lệ đậu quả cao.

Năng suất

Là giống chè mới cho sản lượng khá cao tại Việt Nam. Năng suất trung bình 7-8 tấn/ha (Phú Thọ, Yên Bái). Năng suất thâm canh đạt 10-12 tấn/ha (Thái Nguyên). Giống Phúc Vân Tiên (PVT) sinh trưởng tốt ở tất cả các vùng SX thử. Chè tuổi 5 có năng suất bình quân 7,8 tấn/ha, trong đó Phú Thọ có năng suất cao nhất. Giống PVT có mật độ búp thưa hơn và năng suất thấp hơn 20% so với giống đối chứng (LDP1), nhưng cao hơn 22% so năng suất chè bình quân cả nước hiện nay. Do đó, với năng suất này ở các vùng SX thử kết luận giống PVT đảm bảo được yêu cầu SX.

Chất lượng

Có nội chất tốt, hàm lượng tanin 29,48%, chất hòa tan 40,68%, đường khử 2,40%, axit amin tổng số 2,40%, cathechin tổng số là 132 mg/gok… Chế biến chè đen và chè xanh tốt. Sản phẩm chè đen có ngoại hình xoăn chặt, đẹp có phủ tuyết, nước màu đỏ hồng tươi sáng, vị tốt. Chế biến chè xanh có hương thơm mạnh, vị tốt, màu nước có màu vàng rượu và bã màu xanh sáng.

Khả năng nhân giống

Phù hợp nhân giống vô tính, dễ giâm cành và có hệ số nhân giống khá cao, cây con sinh trưởng khỏe cả ở vườn ươm và sau trồng, tỷ lệ sống cao.

Những yêu cầu kỹ thuật và khuyến cáo chủ yếu trong SX

Giống Phúc Vân Tiên là giống chè mới cho năng suất khá cao, thích hợp quy trình thâm canh. Do đặc điểm thân cao, tán hẹp nên cần phải trồng dày 1,8-2,2 vạn cây/ha và đốn tạo hình 3-4 lần trong 2-3 năm đầu sau trồng. Cần phải hái nhẹ và tăng cường chừa lại trên tán, có hể sử dụng máy hái hoặc sửa lại tán. Thích hợp trồng ở những vùng đồi núi cao, đất tốt như Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, những vùng đất tốt để SX chè xanh.

3. Giống chè TRI 777

giong che moi

Nguồn gốc

Giống có nguồn gốc Shan Mộc Châu, được Srilanka nhập nội, chọn
lọc và đưa vào sản
xuất. Năm 1977 ta nhập về trồng.

Đặc điểm

TRI 777 có lá màu xanh đậm, thuôn dài. Diện tích lá 25 – 35cm2, khối lượng búp ,7 – 0,8 g, tán rộng 1 – 1,4 m, búp có màu trắng, thích hợp ở độ cao trên 600 m so với mặt biển.
Giống có đặc tính nhân cành thấp, tán rộng trung bình nên có khả năng trồng dày, hương vị thơm đặc trưng, chất lượng cao, thích hợp cho chế biến chè xanh. Năng suất chè trung bình đạt 15 – 17 tấn/ha. Chịu nóng, chịu hạn tốt, chịu rét khá. Kháng rầy xanh và bọ xít muỗi khá, ít bị nhện đỏ hại.

Yêu cầu kỹ thuật và hướng sử dụng

Giống chè TRI 777 thích hợp với các loại đất đồi dốc chua (pHkcl = 4,5 – 5,5) thuộc
nhóm đỏ vàng ở trung du, đồi núi Bắc bộ, có thể mở rộng ở Khu IV và Tây Nguyên.
– Thời vụ trồng tháng 8 – 9. Trồng dầy khoảng 17 – 18 nghìn cây/ha, khoảng cách 1,4 x 0,4 m.
– Phân bón cho 1 ha chè: Phân hữu cơ 25 – 30 tấn + 500 – 600 kg lân supe trước khi trồng và 3 năm 1 lần vào cuối năm. Cách bón: cày rạch sâu 15 – 20 cm, bón phân, sau đó lấp kín, bón thúc theo năng suất chè 20 N + 10 K2O/1 tấn búp tươi, bón 3 – 4 lần/năm, ka li bón sớm vào 1 – 2 lần đầu, lấp sâu 8 cm.

4. Giống chè LDP1( chè cành lai)

giong che moi

Nguồn gốc

Là giống chè mới  do Viện nghiên cứu chè chọn tạo và di thực vào Lâm Đồng năm 1996.Giống mẹ của LDP1 là Đại Bạch Trà, một giống chè có chất lượng thơm nổi tiếng của Trung quốc nhưng năng suất thấp.

Năng suất và chất lượng

Giống bố của LDP1 là PH1 có năng suất cao từ 18 đến 20 tấn/ha. Giống LDP1 giữ được năng suất cao của PH1 và hương vị thơm ngon của Đại Bạch Trà vì vậy có thể chế biến ra những loại chè có hương vị ngon.

xem thêm: Hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc chè cành lai

Nhằm mục đích mở rộng diện tích trồng chè cũng như năng suất chất lượng Trà của tỉnh Thái Nguyên trong năm 2016 chúng tôi hiện có cung cấp thêm cây giống chè mới chuẩn cho bà con làm chè. Mọi chi tiết bà con có thể gọi đến số 01689 946 514( gặp Huế – nhân viên hỗ trợ) để nhận được tư vấn.  Trân trọng!

Rate this post

Viết một bình luận